Thứ Tư, 1 tháng 12, 2010

Mỹ vẫn đang còn là một đứa trẻ!

Friedman dự báo trong thế kỷ XXI nước Mỹ vẫn dẫn đầu thế giới, thậm chí ông nói bây giờ nước Mỹ hãy còn là đứa trẻ (?), thập niên 50 thế kỷ này mới trở thành siêu cường đích thực và thập niên 60 mới là thời đại vàng của Mỹ.
George Friedman, người sáng lập và là Chủ tịch Công ty Dự báo chiến lược STRATFOR, một think-tank phi chính phủ hàng đầu thế giới từng dự báo chính xác một số sự kiện chiến lược. Cuốn sách 100 năm tới của ông đưa ra những dự đoán đáng kinh ngạc về nước Mỹ.


Friedman dự báo trong thế kỷ XXI nước Mỹ vẫn dẫn đầu thế giới, thậm chí ông nói bây giờ nước Mỹ hãy còn là đứa trẻ (?), thập niên 50 thế kỷ này mới trở thành siêu cường đích thực và thập niên 60 mới là thời đại vàng của Mỹ.

Dự báo ấy khác với quan điểm của Zbigniew Brzezinski, Henry Kissinger, Stephen Brooks, William Wohlforth hoặc của Martin Jacques (trong cuốn Khi Trung Quốc thống trị thế giới), cũng như nhiều dự báo rất xấu về kinh tế Mỹ trong cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay. Nó giội gáo nước lạnh lên những cái đầu phát sốt sau khi đọc sách của Lưu Minh Phúc cho rằng trong thế kỷ XXI Trung Quốc sẽ thay Mỹ lãnh đạo thế giới.

Dự báo của Friedman dựa trên quan điểm sự thực lịch sử và tình trạng địa-chính trị quyết định tất cả. Friedman nhận định: nước Mỹ đã xây dựng được một nền văn hoá và chế độ chính trị tiên tiến nhất thế giới.

Sự thực là văn hoá Mỹ đang giữ vai trò dẫn đầu thế giới, có sức lan toả và chiếm lĩnh mạnh mẽ. Nhạc pop, vũ điệu rock and roll cũng như fastfood và CocaCola... được giới trẻ khắp nơi ưa chuộng. Hollywood thống trị điện ảnh 5 châu. Truyền thông Mỹ dẫn đầu truyền thông thế giới. Văn hoá chính trị-tư tưởng của Mỹ rất phát triển, họ luôn có nhiều nhà tư tưởng, nhà chính trị học hàng đầu. Khoa học kỹ thuật và giáo dục đại học thì khỏi phải nói.

Tư tưởng dân chủ bình đẳng sinh ra ở châu Âu nhưng nảy mầm và thành cây lá sum sê trên đất Mỹ - khi châu Âu còn dưới ách phong kiến...
Vào thời những năm đầu của thế kỷ 16, 17 phần lớn những người di cư sang Mỹ đều là những kẻ, dưới quan điểm của giới "Quí Tộc", là những kẻ bất mãn bị xã hội ruồng bỏ, những người vô gia cư bị coi là hạ đẳng, và các phần tử bị coi là tội phạm hay phản động. Những con người này đến vùng đất mới châu Mỹ, họ đoạn tuyệt hoàn toàn với quá khứ. Văn hóa của họ, tức nguyên lý sâu xa nhất chi phối suy nghĩ của con người, chỉ đơn giản là "tự lo", và cái nguyên lý ấy phát triển thành triết lý về "tự do" kiểu Mỹ sau này.

Phạm trù tự do của Mỹ được xây dựng dựa trên nguyên lý tự do hành động, chính vì thế thượng tầng kiến trúc của xã hội Mỹ đã phải đối diện với một phạm trù mới về quản trị nhân sự - khi mà những yếu tố khống chế con người như: tôn giáo, ý thức hệ, truyền thống,... đã không còn. Phạm trù mới này đã nẩy nở thành hệ thống nhà nước pháp quyền và văn hóa quản trị tri thức - một hệ thống khái niệm về quản lý lao động tách rời nhân sự.

Hiến pháp Mỹ 1787 là bộ hiến pháp thành văn đầu tiên của giai cấp tư sản trong lịch sử thế giới. Nó dựa trên cơ sở tư tưởng dân chủ tư sản, đầu tiên dựng nên một quốc gia có đặc trưng là chế độ cộng hòa, chế độ liên bang, chế độ Tổng thống, chế độ tam quyền phân lập, chính phủ dân bầu, chế độ nhiệm kỳ của người lãnh đạo. Cơ chế ấy bảo đảm dân chủ hóa trình tự ra quyết sách, tránh được sự lạm dụng chức quyền... Sức sống của mô hình chính quyền Mỹ thể hiện ở chỗ từ ngày lập quốc (1776) đến nay nước này chưa hề có đảo chính hoặc cách mạng lật đổ chính phủ. Rất ít nước lớn nào có nền chính trị ổn định, được lòng dân lâu như vậy.

Dù từng phạm không ít sai lầm nhưng nước Mỹ đã đứng vững và chiến thắng trong hai cuộc thế chiến và chiến tranh lạnh, vượt qua các cuộc khủng hoảng kinh tế vô cùng trầm trọng. Được như vậy trước hết là do cơ chế chính trị phát huy được vai trò làm chủ của toàn dân, họ phát hiện và bầu lên được những người lãnh đạo khôn ngoan phù hợp với xu thế từng thời đại. Nhờ thế chỉ sau 150 năm dựng nước, Mỹ đã trở thành siêu cường bá chủ thế giới.

Trong cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay, các số liệu về tỷ lệ thất nghiệp, nợ nhà nước và thâm hụt ngoại thương đem lại cảm giác kinh tế Mỹ chắc chắn sẽ sụp đổ. Thế nhưng giờ đây họ vẫn sống đàng hoàng bằng núi tiền các nước khác tự nguyện cho vay. Châu Âu mới là kẻ chịu thiệt với đồng Euro có nguy cơ đổ sập. Cơ chế chính trị Mỹ có khả năng tự sửa đổi cho thích hợp hoàn cảnh, như chính sách Kinh tế mới của Tổng thống Roosevelt, hoặc luật cải tổ tài chính Tổng thống Obama vừa trình Quốc hội đã và sẽ có thể đưa nước Mỹ thoát khỏi khủng hoảng.

Trên lĩnh vực kinh tế, người Mỹ cũng dẫn đầu thế giới đưa ra nhiều sáng kiến vĩ đại. Thời gian 1863-1869 họ đã xây dựng xong tuyến đường sắt Thái Bình Dương 3000 km xuyên suốt Đông Tây, vừa góp phần quan trọng thống nhất đất nước, vừa giúp nhanh chóng phát triển kinh tế. Công trình này được đài BBC đánh giá là một trong 7 kỳ tích của lịch sử công nghiệp hoá thế giới và được dân Mỹ coi là biểu tượng thống nhất quốc gia (thời gian 1861-1865 Mỹ có nội chiến, đất nước chia rẽ sâu sắc). 30 năm sau, nước Nga mới bắt đầu làm đường sắt xuyên Siberia .

Thập niên 50 họ có sáng kiến xây dựng mạng xa lộ cao tốc nối tất cả các bang, các thành phố, khiến cho đất nước này trở nên vô cùng năng động, người dân tha hồ phóng xe đi khắp nơi tìm việc làm, khai thác tài nguyên.

Thập niên 90 họ đầu tiên đề xuất và triển khai xa lộ cao tốc thông tin (gồm hệ thống thông tin số và mạng thông tin internet), dẫn đầu thế giới tiến sang kỷ nguyên thông tin, nhờ đó nguồn tri thức tăng gấp bội, bảo đảm công nghệ cao phát triển như vũ bão.
Hai mạng xa lộ nói trên đã đem lại cho nước Mỹ sức mạnh bá chủ thế giới trong 50 năm qua.

Giờ đây George Friedman dự báo trong thế kỷ XXI Mỹ sẽ hoàn tất xây dựng xa lộ cao tốc năng lượng, năm 2080 nhà máy điện trên vũ trụ sẽ bắt đầu phát điện về cho trái đất sử dụng.

Nước Mỹ có ưu thế tốt nhất thế giới về địa lý. Đất rộng và màu mỡ, giàu tài nguyên, có nhiều con sông lớn thông thương được và những hồ nước ngọt khổng lồ. Hai đại dương quan trọng nhất bao bọc hai bên. Ngày nay tiêu điểm cạnh tranh địa chính trị toàn cầu đã chuyển từ đại lục Âu Á sang giành giật quyền kiểm soát biển, mà về mặt này Mỹ có ưu thế vô địch, đã và đang kiểm soát toàn bộ các đường hàng hải, vì thế họ sẽ tiếp tục kiểm soát nền kinh tế toàn cầu.

Friedman viết: trong 10-20 năm đầu thế kỷ XXI, Mỹ sẽ gặp những thách thức nghiêm trọng, nhưng không nước nào có thể thay thế vị trí số 1 của Mỹ; thế giới vẫn lấy nước Mỹ làm trung tâm.

Vitinfo

Thứ Tư, 3 tháng 11, 2010

Việt Nam trong cơn sóng gió mới

Lý Kiến Trúc
Gửi tới BBC từ Orange County, California, Hoa Kỳ


Việt Nam trải thảm đỏ đón Ngoại trưởng Hillary Clinton đến Nội Bài dự hội nghị Hà Nội hôm cuối tháng 10
Cuối tháng 10/2010, Hội nghị thượng đỉnh ASEAN và hội nghị cao cấp Đông Á EAS khai mạc và kết thúc ở Hà Nội qua bàn tay đạo diễn chính trị của chủ tịch ASEAN 2010.
So với hàng ngàn năm lập quốc, vệ quốc, kiến quốc, không kể xiết bao nhiêu trận chiến đối đầu với ngoại bang, khoảng trăm năm trở lại đây, nước Việt ta chưa lúc nào “căng thẳng” như lúc này. “Căng” từ trong ra ngoài. Quốc nội, Việt Nam đối đầu với trào lưu dân chủ, với tự diễn biến, còn ở ngoài nước đối đầu với ngoại lực của “đa phương hóa”.
Trên diễn đàn quốc tế, kể ra Việt Nam lúc này cũng được vị nể, thế giới nhìn về Việt Nam như một “biến cố làm thay đổi diện mạo Đông Nam Á”.Như một sức hút vô hình, nguyên thủ các cường quốc liên tục đến tìm hiểu một quốc gia nhỏ bé sau bức màn tre. Vị trí định mệnh của quốc gia này được hiểu qua lăng kính: Một là lịch sử đất nước kỳ hùng bên cạnh ông láng giềng khổng lồ chỉ lăm le nuốt chửng, họ vẫn tồn tại và phong phú hóa nền văn hóa đặc thù dân tộc, vẫn giữ được bản sắc dù khói súng tầu đồng và nền văn minh phương Tây đến gieo máu lửa từ những năm 1858 liên miên cho đến 1945, 1954, 1975;
Hai là do trận nội chiến thắng-bại của phe xã hội chủ nghĩa, phe tự do giết gần 3 triệu người; Ba là cuộc di dân vĩ đại nhất hoàn cầu của con Lạc cháu Hồng trên 80 quốc gia; Bốn là sức bật của người Việt trong nước, và Năm là sức sống của tập thể cộng đồng Việt Nam hải ngoại.
Tọc mạch một chút, cuộc nội chiến hàng trăm năm Trịnh - Nguyễn, Nguyễn - Tây Sơn (1627-1672-1775-1802) chưa vang bóng sử; đội thủy quân Xiêm La còn để lại dấu vết chiến thuyền ở Rạch Gầm; đội quân Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp Lãng Sa còn để lại dấu vết trên sông Gianh, sông Nhật Lệ; họng đại bác của các Thủy sư Đô đốc nước đại Pháp (phó Đô đốc Rigault de Genouilly, Đô đốc Charner 1858-1861) tiếp tục nhả đạn vào đất Việt.

Thời của các thủy sư, đô đốc và đề đốc: Đô đốc Mike Mullen của Hải quân Hoa Kỳ
Đến nay, phải chăng lịch sử lại tái hiện với thời đại của Đô đốc Mike Mullen, Đô đốc Robert Willard, (đến cả trùm CIA của TT Obama cũng là Đô đốc), của đại Hán Đề đốc Quan Hữu Phi, Đề đốc Dương Nghị, các đại Hán đô đốc hậu duệ của Trịnh Hòa, các đô đốc của Pháp, Úc, Ấn Độ, v.v… thời đại của các thủy sư đô đốc thi nhau “nộ kình ngư”, khốn thay, Biển Đông của chúng ta lại được chấm là nơi tranh tài thủ lợi.
Tháng 8 năm 1945, kết thúc Thế chiến thứ hai. Tháng 11, 1989 chủ nghĩa và chế độ XHCN Đông Âu sụp đổ theo bức tường Bá Linh, như quân cờ Domino,tư bản phương Tây được thế lên như diều.
Nếu thế kỷ 20 khai thác tối đa đất liền, sang thế kỷ 21 các tập đoàn rục rịch chuyển hướng làm ăn ra đại dương.
Tài nguyên biển vừa là thị trường mua, vừa là thị trường bán với giá béo bở. Nhìn thấy trước nguồn lợi vô biên của đại dương và vị trí chiến lược của Biển Đông, tháng Giêng năm 1974, Trung Quốc ra quân chiếm cho bằng được Hoàng Sa, quần đảo tiền tiêu, đông vươn ra Thái Bình Dương, tây đe dọa Đông Dương (Hoàng Sa cách Quảng Ngãi 360km, quá gần so với vũ khí hiện nay).

Nước Mỹ đang làm gì?
Nước Mỹ, người Mỹ không bao giờ bỏ qua cơ hội làm ăn trên toàn thế giới. Con đường vận chuyển ngang qua hải không phận biển Đông đang đe dọa quyền lợi của họ, chưa kể những thông tin lạc quan về mỏ dầu và khoáng sản biển Đông dào dạt báo tin mừng. Nhưng nước Mỹ bây giờ mới trở lại biển Đông có muộn không?
Nhớ lại sau hiệp định Paris, mãi 30 năm sau, chiến hạm đầu tiên của Hoa kỳ USS Vandergrift cập bến Sàigon. Có người nói muộn mà chắc. Có người cho rằng muộn mà chưa chắc.
Để cho chắc ăn, bà Ngoại trưởng Hillary Clinton mở hai ngày hội thảo tại Washington DC quy tụ các yếu nhân thuộc hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ đánh giá lại Đông Dương từ năm 1945 đến 1975. Cuộc hội thảo lấy dấu mốc năm 1945 và năm 1975 có ý nghĩa đặc biệt của nó.
Mục đích gần của hội thảo là nhằm đưa ra chính sách mới của Mỹ đối với Thái Bình Dương. Nếu chỉ xét riêng về Việt Nam, kể từ năm 1963 là năm người Mỹ đảng Dân Chủ triệt hạ chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa miền nam VN để đảng Cộng Hòa bước chân vào chiến trường trắc nghiệm thử lửa, (Kissinger (đảng Cộng Hòa) nói trong cuộc hội thảo: “Vì thế tôi nhớ lại đâu đó có một lời tuyên bố của (Tổng Thống) Johnson (đảng Dân Chủ) khi ông nói: “Tôi không đủ sức chiến thắng (tại Việt Nam) mà lại không thể rút lui);

Người Mỹ sẽ tiếp ứng cho bên nào nếu xảy ra tranh chấp?
47 năm sau, người Mỹ đảng Dân Chủ “mới tinh” thực sự trở lại Việt Nam, liệu chính sách của TT Obama đối với Thái Bình Dương, bước đầu từ ASEAN qua bản Thông Cáo Chung New York 2010 mà ông vừa mới ký có giải quyết được các thách thức an ninh hiện nay ở khu vực, liên đới tới an ninh toàn thế giới hay không? Chưa thể trả lời gẫy gọn được.
Biển Đông đã được minh định qua hai bản Thông Cáo Chung New York tháng 9/2010 và Tuyên Bố Chung Hà Nội ASEAN+8 tháng 10/2010.
Thông Cáo Chung New York và Tuyên Bố Chung Hà Nội chỉ là mắt xích trong chiến lược điều chỉnh lại vị thế của Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương, tuy nội dung của nó có mang lại sự an toàn nhất thời cho ASEAN, nhìn thoáng qua tuy Mỹ có dồn được Trung Quốc ngồi xuống thảo luận tiến trình CoC, nhưng con đường hòa bình và lợi ích của các quốc gia trong vùng vẫn còn nhiều khúc mắc.
Một khi tiến trình CoC cù cưa cho đến năm 2011 và cho đến cái gọi là xây dựng một mô thức Liên minh ASEAN 2015 còn là viễn ảnh, chưa nói đến chiến lược Tái cấu trúc Biển Đông và chuyện “cái cầy đặt trước con trâu” của Việt Nam và Trung Quốc vẫn còn những nước đi đầy bí ẩn ngoạn mục.

Chiến thuật Trung Quốc
Nhìn lại các chiến thuật của Bắc Kinh ta thấy ngay sau khi họ đạt được bản Tuyên bố Phom Penh 2002, Trung Quốc gia tăng thế lực hải quân, tầu chiến, tầu ngầm hiện đại, các chiến hạm cũ cải tiến thành “Ngư chính” (số hiệu 311), tuần tiễu, “tầu lạ” truy đuổi và tấn công ngư thuyền, thành lập Bộ “Hải quân Nhân dân” với hàng ngàn chiến đỉnh nhỏ, thành lập đoàn “Hải quân Trinh sát” trang bị các tiểu chiến đỉnh lợi hại.
Các chiến đỉnh tuy nhỏ nhưng đã đụng độ và cản mũi trước Impeccable to lớn gấp 10 lần khi mon men tới vành đai Tam Á (cách Hải Nam 110km), đã áp sát đuôi Khu trục hạm USS John Mc Cain.
Nói tóm lại, Trung quốc đã đưa dàn du kích biển, chủ lực biển ra so gươm đọ súng với Hạm đội Hoa Kỳ, tuy cả hai không ông nào gây sát thương, nhưng hai con hổ biển đã lượng định được sức mạnh của nhau.
Về chính trị ngoại giao, phe tướng lãnh Trung quốc đại biểu cho giới “diều hâu cực chiến” liên tục phun ra những lời lẽ hiếu chiến sặc mùi xâm lược. Đám diều hâu này đòi “Giết bọn giặc Việt Nam để làm vật tế cờ trong trận chiến thu hồi Nam Sa” (5), và không tiếc lời cảnh cáo “hành động bá quyền” của Mỹ.
Một thái độ của ASEAN đòi hỏi sự minh bạch của các hội nghị ASEAN + 2, ASEAN + 3, ASEAN +8 vừa qua, cho thấy đa phần họ đã nhìn ra nước cờ của bốn cường quốc Hoa Mỹ Việt Xô. Việc Nga “âm thầm” bán vũ khí tối tân, bảo trì và huấn luyện cho quân đội các nước ASEAN là một chỉ dấu cho thấy sự hiện diện của Nga ở tọa độ khác với Trung quốc và Hoa Kỳ. ASEAN khó mà có thể quên được sự viện trợ quân phí khổng lồ cho Việt Nam phục vụ cuộc chiến Đông Dương lần hai.
Các trận đánh biên giới Tây Bắc Việt Trung năm 1979 phần nào giải thích về cuộc tranh chấp quyền lực, quyền lợi giữa hai phe Trung Xô trên bãi chiến trường bán đảo Đông Dương.
Lợi dụng vào sự sụp đổ Đông Âu dẫn đến sự tan rã của Liên bang Xô viết, Trung Quốc đã từ từ lên ngôi thượng phong, hậu quả của hai bản Hiệp ước biên giới trên bộ 1999 và Hiệp ước biên giới dưới biển 2000 là một khiên cưỡng tất yếu của VN trước cường lực của kẻ thù truyền kiếp. Thời điểm này Hoa Kỳ lặng im.

Có đủ khả năng
Thế nhưng, giai đoạn nghẹt thở đó đã qua với lời tuyên bố trên báo Bưu Điện Hoa Nam Buổi Sáng (South China Morning Post) xuất bản tại Hồng Kông vào cuối tháng 7/2010, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Quốc phòng VN mạnh mẽ nói rằng nước ông có đủ khả năng đối phó với sự đe dọa nào.
Ông Vịnh có một lối nói “bóng gió chính trị”, ai muốn hiểu sao thì hiểu, hiểu cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.
Tuy ông không nói rõ sự đe dọa nào đến từ Mỹ, từ Trung quốc, hay từ đồng chí Nga, hay từ thế lực nào khác, nước ông vẫn có đủ khả năng đối phó! Hàm ý, ông Vịnh muốn chứng minh chủ trương đa phương hóa của đảng CSVN đã lột tả sức mạnh của VN hôm nay.
Bằng cách tung hàng tỉ đô la ra mua tầu ngầm Kilo và chiến đấu cơ của Nga. Nga hiện diện ở Việt Nam như một bạn hàng lớn, như một đồng chí cường quốc âm thầm đóng vai cung cấp vũ khí, nhưng ông Vịnh ông Thanh sẽ rất nhức đầu khi Biển Đông “bị” nâng lên hàng “quốc tế hóa”. Quốc tế hóa là gì? Hiểu theo nghĩa của Mỹ ra sao? Hiểu theo ASEAN ra sao? Dù hiểu theo cách nào thì chủ trương quốc tế hóa cũng là con dao hai lưỡi đối với Việt Nam.
Nếu câu tuyên bố của tướng Vịnh không cách xa bao lâu bài diễn văn của Ngoại trưởng Hillary Rodham Clinton đọc tại khách sạn Kahala Hotel-Honolulu hôm 25 tháng 10, bà Ngoại trưởng đã nhấn mạnh tới chiến lược điều chỉnh chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương, đặc biệt đối với ba quốc gia Việt Nam, Miến Điện và Indonesia.

Hoa Kỳ hiện vẫn làm chủ Thái Bình Dương cả trên không, trên biển và dưới mặt biển
Đối với Miến bà cảnh cáo, Indonesia bà đề nghị, riêng đối với Việt Nam, một nhân tố quan trọng trong việc tạo ổn định cho khu vực và cũng là một trong hai ông chủ lớn ở Biển Đông, Bà Hillary đã nói: “Quan hệ Việt-Mỹ hiện nay là quan hệ đồng minh chiến lược góp phần vào ổn định và hòa bình khu vực”.

Vành đai hỏa lực xanh dẫn từ Bắc Á, Okinawa, vòng qua Biển Đông, Nam Á tới Ấn Độ xuyên qua nỗ lực chính trị của bà Ngoại trưởng Hillary, xuyên qua các cuộc hành quân trên biển cả của các đô đốc, sẽ là tham vọng của Mỹ thách đố Trung quốc.
Muốn là một chuyện, trả lễ lại cái muốn của Ngoại trưởng Hillary Rodham Clinton, Bộ trưởng Ngoại giao Trung quốc Dương Khiết Trì nói: “Quốc tế hóa Biển Đông thì liệu mang lại kết quả gì hay chỉ khiến mọi việc tồi tệ hơn và khó giải quyết hơn”.
Bộ trưởng Quốc phòng Trung quốc Lương Quang Liệt ôn tồn chỉ ra chính sách của Trung Quốc về “sự phát triển quốc phòng của Trung quốc không nhằm đe dọa hay thách thức ai, mà nhằm bảo đảm an ninh (của Trung Quốc) cũng như thúc đẩy hòa bình và ổn định quốc tế lẫn khu vực".
Đồng thanh tương ứng với Liệt, Bộ trưởng Quốc phòng VN Phùng Quang Thanh tuyên bố tại hội nghị Shangri-La 6/6/2010: “Giữ nguyên hiện trạng và không làm phức tạp thêm tình hình”.
Thế cho nên, chúng ta tiếp tục chờ đợi kết quả của Bản Quy Ước Cụ Thể Hành Xử Biển Đông gọi tắt là CoC có cơ may làm sáng sủa thêm tình hình Biển Đông hay ngược lại thời gian sắp tới vẫn chỉ là bầu khí nén.

Bài viết thể hiện quan điểm và cách hành văn của tác giả Lý Kiến Trúc, CLB Văn hóa và Báo chí, California, Hoa Kỳ.

Thứ Ba, 26 tháng 10, 2010

Đàn sếu, trận chiến Điện Biên và bô- xít Tây Nguyên

Tác giả: HIỆU MINH
Bài đã được xuất bản: 26/10/2010 06:00 GMT+7, Trên VietnamNet

Trong lịch sử phát triển của nhiều quốc gia, ở những thời điểm nhậy cảm, nhiều vị lãnh đạo đã phải biết “lùi” đúng lúc để đưa đất nước tiến lên, hay tránh thảm họa.

Chuyện của đàn sếu

Khi tôi viết những dòng này thì Washington DC đang vào mùa thu. Bên đường cao tốc, trong công viên, cây cối bỗng chuyển sang mau vàng xen đỏ rực rỡ. Những cánh rừng đa sắc màu pha nắng trời thu phản chiếu trên mặt hồ phẳng lặng, đẹp mê hồn. Hai cậu con trai của tôi đi chơi trong công viên, đang chạy nhảy. Bỗng có tiếng kêu của đàn sếu bay qua. Hai đứa ngẩng lên và hỏi "Tại sao chim di cư lại bay thành hình chữ V".

Tôi từng xem bộ phim đen trắng của Liên Xô "Khi đàn sếu bay qua" gây bao xúc động cho người xem về cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của người Nga. Boris, người yêu của Veronica (nhân vật nữ chính trong phim), bị bắn chết ở đầm lầy, khi đang cứu một binh sĩ khác. Khi nhắm mắt, Boris nhìn thấy đàn sếu bay qua hình chữ V. Và chi tiết đó cũng nhắc lại trong đoạn kết của bộ phim khi Veronica ngước nhìn bầu trời.

Lúc đó 14-15 tuổi, tôi hỏi các anh chị lớn tuổi tại sao sếu lại bay như thế. Họ chỉ giải thích "V" là chữ Victoria - biểu tượng của chiến thắng. Boris tin vào chiến thắng ngày mai và Veronica tin vào mùa Xuân đang về vì đàn sếu bay qua. Sau này khi tìm hiểu kỹ thì tôi mới biết chữ V của đàn chim di cư liên quan đến sự đoàn kết của bầy đàn. Con chim đầu đàn luôn là con khỏe mạnh nhất, thông minh nhất. Chúng dựa vào từ trường, dãy núi, cánh đồng, thành phố làm mốc, hướng mặt trời, trăng, sao để định hướng cho chuyến bay dài hàng ngàn cây số.

Bay hình chữ V vì chim sau dựa vào con bay trước để bớt sức cản của gió, đỡ mất năng lượng hơn. Con đầu đàn mỏi cánh thì lùi lại cho chim khác tiến lên làm "lãnh đạo". Cứ thế chúng thay đổi "vai trò" để cả đàn bay được xa. Đó là sự kỳ diệu cho thiên nhiên và những loài chim di cư, biết nương tựa vào nhau vượt qua bao sông sâu, núi cao, tới một miền đất hứa khác để mùa xuân sau lại quay về nơi chốn cũ. Sự tồn tại giống nòi của chúng dựa trên một triết lý đơn giản: Dựa vào nhau và chia sẻ.

Nếu bay đơn độc, con chim không thể tới nơi cần đến cách xa hàng ngàn dặm. Có những đàn chim không tới đích và lao xuống biển, vì con đầu đàn đã định hướng sai, không biết lui khi đã mệt và nhường chỗ hay chia sẻ vai trò dẫn đường đúng lúc. Đó chính là nguyên nhân gây ra thảm họa của cả bầy đàn.

Dự án bô- xít Tây Nguyên và các nhân sỹ trí thức Việt Nam

Mấy hôm nay, báo chí đưa tin, bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch nước và nhiều nhân sỹ trí thức đã gửi thư tới lãnh đạo Đảng và Nhà nước "khẩn thiết yêu cầu" xem xét lại việc khai thác bô-xít Tây Nguyên. Thảm họa bùn đỏ vừa qua tại Hungary cũng là một cảnh báo khác về dự án đang tranh cãi này.

Theo các nhân sĩ, việc xét lại dự án và nếu phải dừng thì cũng là "một quyết định rất đau đớn chưa hề có trong lịch sử kinh tế Việt Nam và sẽ là một tổn thất lớn mà nền kinh tế phải chịu đựng, nhất là Nhà máy chế biến alumina Tân Rai đã hoàn thành một phần lớn và đã làm được nhiều việc quan trọng trong triển khai dự án Nhà máy Nhân Cơ".

Một blogger đã ví chuyện này như trận Điện Biên Phủ năm xưa. Chúng ta còn nhớ ngày 14-1-1954, tại hang Thẩm Púa, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, khi đó mới 43 tuổi, phổ biến lệnh tấn công mật với dự định tiêu diệt căn cứ Điện Biên Phủ trong 3 ngày đêm bằng chiến dịch biển người.

Mười ngàn (10.000) quân Pháp cố thủ trong hầm ngầm chọi với 50 ngàn quân Việt Minh phơi lưng trên cánh đồng trống trải.Lẽ ra cuộc tấn công dự định vào ngày 20-1-1954 nhưng một đơn vị đại bác vào trận địa chậm nên ngày nổ súng được lui lại vào 25-1. Sau đó bị lộ nên ngày tấn công dự định vào 26-1.

Sau một ngày và đêm suy nghĩ, Đại tướng đã tìm ra vài nguyên nhân không thể thắng: Quân ta chưa thành công trong việc tấn công các cứ điểm lô cốt liên hoàn như của Pháp tại đây. Pháo binh và bộ binh chưa qua tập luyện, chưa qua diễn tập để tham gia một trận tấn công mang tính liên hoàn.

Quân ta quen chiến tranh du kích, công đồn vào ban đêm trong khi sắp tới sẽ phải tấn công địch vào ban ngày trên địa hình bằng phẳng. Đối phương có ưu thế về máy bay, pháo binh, xe tăng. Trong sáng 26-1-1954, Bộ Chỉ huy mặt trận họp và không đi đến được ý kiến thống nhất. Đại tướng hỏi, ai tin rằng trận này sẽ chắc thắng, không ai trả lời được. Vị tướng trẻ tài ba đã quyết định hoãn cuộc tấn công chiều hôm đó.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Ông cho rằng, phương án "đánh nhanh thắng nhanh" mang nhiều tính chủ quan, không đánh giá đúng thực lực hai bên, không thể đảm bảo chắc thắng. Vị tướng quyết định tổ chức lại trận đánh theo phương án "đánh chắc thắng chắc" dài ngày theo kiểu "bóc vỏ" dần tập đoàn cứ điểm. Số phận của đế chế Pháp tại Đông Dương được quyết định bởi chiến lược..."bàn lùi" của Đại tướng. Pháo đã kéo vào trận địa, quân đã ém, sẵn sàng đợi lệnh tấn công.

Nhưng phút chót phải kéo pháo ra, rút quân khỏi chiến hào. Cuộc chiến không phải 3 ngày mà kéo dài 55 ngày đêm kể từ trận xuất kích đầu tiên vào tháng 3 năm đó. Theo lời kể của Đại tướng, đây là quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời binh nghiệp của mình. Làm tướng phải biết cương nhu, biết tiến, biết lùi. Nếu chỉ dùng ý chí và thuật biển người thì số phận của nước ta có thể đã khác.

Nếu khai thác bô- xít, những nhà khoa học lo mấy triệu tấn bùn đỏ trên Tây Nguyên như một quả bom hẹn giờ, sẵn sàng nổ bất kỳ lúc nào ngoài ý muốn của con người. Chưa kể một nền văn hóa lâu đời của Tây Nguyên sẽ bị "bùn đỏ" cuốn trôi. Khi đó một "tàu Vinashin" khác lại tiếp tục chìm và tầm ảnh hưởng về kinh tế, chính trị còn lớn hơn rất nhiều.

Không phải ngẫu nhiên mà các chí sỹ, kể cả Đại tướng dù đã 100 tuổi, rồi bà Nguyễn Thị Bình, đã lên tiếng cảnh báo về nguy cơ khai thác bô- xít Tây Nguyên, ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường, an ninh quốc phòng và khả năng thất bại của dự án."Chỉ có lòng dũng cảm và ý thức trách nhiệm tuyệt đối với vận mệnh quốc gia" của các vị lãnh đạo Đảng, nhà nước, cùng "sự thông cảm" của nhân dân cả nước "mới đủ sức đi tới thực hiện quyết định khó khăn này"- các nhân sĩ nhấn mạnh.

Quyết định của ông gây hệ lụy cho hàng trăm ngàn binh lính, dân công, và cả nước phải chờ thêm 5 tháng nữa thay vì 3 ngày. Một sự tốn kém khủng khiếp, nhưng quyết định "lùi" đó có thể đã tránh cho dân tộc này một đại bại trong chiến tranh và một thảm họa lịch sử.

Vụ bùn đỏ Hungary mới đây thật không may cho nước bạn, nhưng cũng là dịp hiếm có "nhìn lại mình" của chính chúng ta tại các dự án bô- xít. Từ tai nạn của họ, để rút ra bài học cho nước mình. Nếu khai thác bô- xít, những nhà khoa học lo mấy triệu tấn bùn đỏ trên Tây Nguyên như một quả bom hẹn giờ, sẵn sàng nổ bất kỳ lúc nào ngoài ý muốn của con người. Chưa kể một nền văn hóa lâu đời của Tây Nguyên sẽ bị "bùn đỏ" cuốn trôi. Khi đó một "tàu Vinashin" khác lại tiếp tục chìm và tầm ảnh hưởng về kinh tế, chính trị còn lớn hơn rất nhiều.

Một người bạc tóc hay 85 triệu dân bạc tóc?

Chuyện đàn sếu và dự án khai thác bô- xít Tây Nguyên không liên quan gì đến nhau. Và chiến trận Điện Biên cũng không có gì ảnh hưởng đến khai thác quặng. Nhưng có vài điểm đáng học ở loài chim di cư và thủ thuật binh pháp của đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Trong lịch sử phát triển của nhiều quốc gia, ở những thời điểm nhạy cảm, nhiều vị lãnh đạo đã phải biết "lùi" đúng lúc để đưa đất nước tiến lên, hay tránh thảm họa.
Người lãnh đạo cũng như con chim đầu đàn của đàn chim di cư. Đưa con thuyền dân tộc tới bến là do người lãnh đạo. Và làm con tàu chìm giữa biển khơi cũng phần lớn do người cầm lái. Người lãnh đạo biết chia sẻ trách nhiệm với nhân dân thì con tàu quốc gia sẽ đi xa.

Nếu chỉ biết lo cho mỗi cá nhân mình hay lợi ích nhóm thì giống như con chim đầu đàn tham quyền cố vị, già cỗi, mệt mỏi nhưng không muốn nhường chỗ, để cuối cùng cả đàn mất phương hướng và lao đầu xuống biển. Đại tướng thời Điện Biên biết..."bàn lùi" trước khi quá muộn. Rất có thể vị tướng nhớ lời Tôn Tử: "Biết người biết ta, trăm trận không nguy. Không biết người mà chỉ biết ta, một trận thắng một trận thua. Không biết người, không biết ta, mọi trận đều bại".

Khi quyết định khai thác bô- xít Tây Nguyên, liệu có ai ngồi suy ngẫm về khả năng thành - bại, được - mất của dự án như tướng Giáp đã từng thức trắng đêm khi ngồi trước bản đồ lòng chảo Điện Biên tại hang Thẩm Púa năm xưa? Để một người bạc tóc, hay cả dân tộc gần 90 triệu phải bạc tóc. Đó chính là cái tâm, cái tầm của người lãnh đạo quốc gia.

Chợt nhớ câu hỏi của hai con. Tôi giải thích cho các cháu rằng, chữ V của đàn sếu bay qua là biểu tượng của sự đoàn kết, chia sẻ trách nhiệm của bầy đàn. Để có mùa thu vàng phẳng lặng, các con vui chơi hạnh phúc dưới trời xanh, thì loài người cần học cách tồn tại của những đàn chim di cư. Khi đó mới mong có được biểu tượng hình chữ V (Victoria - chiến thắng) trên bầu trời.

Thứ Sáu, 15 tháng 10, 2010

Từ cải cách y tế Mỹ ngẫm về lẫn lộn khái niệm

TS.Nguyễn Quang A


Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama ký ban hành luật cải cách y tế. Ảnh: Getty
Ngày 23-3-2010 Tổng thống Mỹ Obama đã ký ban hành luật cải cách y tế Mỹ. Dẫu luật này còn gặp nhiều khó khăn do Đảng Cộng hòa nói sẽ dùng mọi biện pháp để ngăn cản việc thực hiện và cả chục bang (do đảng Cộng hòa nắm quyền) đe dọa sẽ kiện đạo luật này vi hiến, Tổng thống Obama đã có một kỳ công ngoạn mục, giữ được một lời hứa quan trọng của mình khi tranh cử.
Sau khi được thực hiện, luật này sẽ cải tổ sâu sắc xã hội Mỹ, nó là một sự điều chỉnh rất khó khăn và vô cùng lớn của chủ nghĩa tư bản Mỹ. Nó sẽ đảm bảo thêm cho 32 triệu người Mỹ các dịch vụ y tế cơ bản mà họ chưa được hưởng. Đảng dân chủ đã định đưa ra đạo luật cải cách y tế từ nhiều chục năm qua nhưng đều thất bại, lần này họ đã thành công.
Trong khi các nhà nước phúc lợi châu Âu đã đảm bảo dịch vụ y tế cơ bản cho mọi người dân từ lâu, thì hệ thống y tế của Mỹ dựa quá nhiều vào sự tự nguyện, vào thị trường, vào khu vực tư nhân nên đã khiến hàng chục triệu người không có bảo hiểm y tế.
Phúc lợi xã hội tạo gánh nặng cho nhà nước ở các nước châu Âu và đã buộc các nước này có những cải tổ hệ thống để nâng cao hiệu quả. Với đạo luật này Mỹ dường như tiến đến một nhà nước phúc lợi hơn, tiến gần hơn tới kiểu chủ nghĩa tư bản dân chủ châu Âu.
Đảng cộng hòa và các hãng bảo hiểm y tế tư nhân ở Mỹ đã phản đối kịch liệt dự luật này trong thời gian qua và sẽ tìm mọi cách để cản trở việc thực hiện nó trong tương lai. Họ có rất nhiều lý do phản đối, từ giảm quyền tự do của người dân đến lấn quyền của các bang, v.v. Nhưng một trong những lý do cơ bản là ý thức hệ. Họ mang con ngáo ộp “xã hội chủ nghĩa” ra dọa dân Mỹ, để biện hộ cho sự phản đối của họ, nói rằng luật này cho phép nhà nước can thiệp quá sâu vào lĩnh vực y tế và khiến nước Mỹ trở nên “xã hội chủ nghĩa” hơn.
Xã hội chủ nghĩa được hiểu ở mỗi nơi một khác với sự lẫn lộn khái niệm do vô tình hay hữu ý.
Nếu hiểu xã hội chủ nghĩa là nhiều dân chủ hơn, nhiều phúc lợi hơn cho người dân, là “dân giàu nước mạnh xã hội dân chủ công bằng văn minh”, thì đúng các nhà nước phúc lợi Tây Âu “xã hội chủ nghĩa” hơn Mỹ, và hơn các nước tự xưng là xã hội chủ nghĩa rất rất nhiều. Có thể gọi họ là “xã hội chủ nghĩa dân chủ” nhưng thực chất họ là các nước tư bản chủ nghĩa hiện đại. Chủ nghĩa tư bản có sức sống dẻo dai, có khả năng tự điều chỉnh và đã có sự điều chỉnh rất nhiều từ chủ nghĩa tư bản man rợ thời trước Marx. Luật cải cách y tế Mỹ là một minh chứng nữa cho sự điều chỉnh như vậy.
Thực ra, tên gọi là gì cũng quan trọng (đối với hiệu quả truyền thông nếu dùng các khái niệm rõ ràng) song không quan trọng bằng thực chất là gì.
Một số trong số các nước xã hội chủ nghĩa châu Âu trước kia đã chuyển hẳn sang con đường tư bản chủ nghĩa hiện đại hay “chủ nghĩa xã hội dân chủ”, số còn lại (phần lớn thuộc Liên Xô trước đây) đi theo con đường tư bản man rợ.
Trung quốc rất khôn khéo đi theo con đường mà họ gọi là “chủ nghĩa xã hội mang mầu sắc Trung Quốc”. Con đường mang mầu sắc Trung Quốc là gì? Xét theo việc làm chứ không theo lời họ nói, đó, thực chất, là con đường tư bản chủ nghĩa. Nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, khu vực tư nhân phát triển, cải cách mạnh khu vực doanh nghiệp nhà nước, nền kinh tế hội nhập sâu và toàn diện vào nền kinh tế toàn cầu. Nhà nước phúc lợi trước kia ở Trung Quốc, tuy mới chỉ dành cho số ít (trong bộ máy nhà nước, doanh nghiệp nhà nước) nhưng đã bị cắt giảm, bị “xã hội hóa” theo kiểu chủ nghĩa tự do Mỹ, tuy mức độ phúc lợi kém hơn nhiều. Nay Trung Quốc muốn cắt ngắn giai đoạn tư bản chủ nghĩa man rợ để phát triển chủ nghĩa tư bản hiện đại và họ đã có kế hoạch cải cách hệ thống phúc lợi, trong đó có y tế, cho số đông.
Họ chẳng bao giờ nói họ phát triển tư bản chủ nghĩa (vì nói thẳng thế không hay cho sự phát triển tư bản chủ nghĩa của họ), nhưng việc làm của họ thì chính xác như vậy, đấy là con đường nhanh nhất, hữu hiệu nhất để chấn hưng Trung Quốc. Cái chủ nghĩa thực sự thịnh hành ở Trung Quốc hiện nay là chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa dân tộc. Sự vươn lên của Trung Quốc hiện nay có nét giống với sự vươn lên của Đức và Nhật cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Không rõ Trung Quốc có trở thành “tư bản chủ nghĩa dân chủ” hay không? Nếu có thì đó sẽ là hồng phúc cho nhân loại; nếu không sẽ có nhiều bất trắc cho thế giới.
Nhân tranh cãi về cải cách y tế ở Mỹ, có thể thấy cả ở Mỹ lẫn Trung Quốc và nhiều nơi khác người ta vẫn dùng đến chủ nghĩa này chủ nghĩa nọ để biện hộ cho sự phản đối hay thúc đẩy những cải cách nào đó. Lời nói, phép tu từ học vẫn được sử dụng như một công cụ hữu hiệu để biện hộ, đôi khi che dấu những mục đích, những động cơ thực.
Học kinh nghiệm nước ngoài nên xem xét hành động thực tiễn, đừng quá tin vào ngôn từ. Cùng một từ có thể được dùng với những nghĩa khác nhau. Cứ thấy họ dùng từ giống hay gần giống mình mà làm theo cách người ta nói, người ta khuyên hay ám chỉ thì rất có thể phải mang thóc giống ra ăn.
Hãy xem họ làm gì, cách họ làm thế nào, đưa chúng vào một khung khổ khái niệm rõ ràng để có những phân tích mạch lạc và hãy đừng quá để ý đến điều họ nói. Tránh kinh nghiệm xấu, học cách làm hay và tìm cách làm cho chúng thích ứng với điều kiện của mình, sẵn sàng thử nghiệm những cách làm mới. Đấy có thể là cách khôn ngoan để cải tổ xã hội, nền kinh tế và hệ thống phúc lợi, để nâng cao sức cạnh tranh quốc gia, để chấn hưng đất nước.

Thứ Hai, 11 tháng 10, 2010

Cổ tích của tôi

L.T.K.S

Khi con biết đòi ăn
Mẹ là người đã mớm cho con miếng cháo
Khi con biết đòi ngủ bằng tiết tấu
Mẹ là người đã thức hát ru con

Bầu trời trong mắt con ngày một xanh hơn
Là khi tóc mẹ ngày thêm sợi bạc
Mẹ trở thành hiển nhiên như trời đất
Một mặt trời, mặt đất, vầng trăng

Nếu có đi một vòng quanh quả đất tròn
Người mong con mòn mỏi cũng không ai ngoài mẹ
Tiếng "Mẹ" từ khi bập bẹ đến khi trưởng thành
Con vẫn không hiểu hết chiều sâu

Mẹ có nghĩa là bắt đầu
Cho sự sống, tình yêu và hạnh phúc
Mẹ có nghĩa là một ngọn nến thắp bằng máu của con tim
Cháy trong bão bùng, cháy trong gian khó

Cổ tích của những ai còn có mẹ
Là ngày xưa có một công chúa
Hay ngày xưa có một ông vua
Cổ tích của tôi là "Ngày xưa có mẹ..."