Thứ Bảy, 19 tháng 3, 2011

Những điều cần biết khi mua ô tô cũ

“Tiền ít nhưng muốn thịt nhiều” là câu ngạn ngữ chỉ tâm lý người đi mua hàng, không nhiều tiền nhưng muốn có hàng chất lượng tốt. Với mặt hàng ô tô seconhand thì việc này không khó, chỉ cần chú ý vài điểm.


Kỳ 1: Tiền ít, xe tốt
Mặc dù ô tô là mặt hàng khá đặc biệt bởi số tiền đầu tư lớn, nhưng do có tính chất “thời trang” như một số mặt hàng khác nên việc thay đổi xe, với dân “chơi” xe, diễn ra thường xuyên.
Trong khi đó, lượng người có nhu cầu dùng xe du lịch cho những nhu cầu thiết thực lại khá nhiều. Trong đó, số người không đủ tiền để mơ tới những “con” xe đẳng cấp, chỉ cần xe tốt rất nhiều.
Tiền ít nhưng muốn mua xe tốt, điều này nghe như một nghịch lí nhưng lại là thực và hoàn toàn có thể đạt được.
Những kinh nghiệm dưới đây dành cho dân muốn mua xe đã qua sử dụng an tâm khi đi mua xe, tránh được những khuyết tật và thất vọng, thiệt hại về sau, nhất là những người mua xe lần đầu.

Chọn mua xe “cũ mà mới”
Khi đi mua xe, bạn thường lưu ý đến “đời xe”. Điều này không sai nhưng nếu tuân thủ máy móc quá, đôi khi phải trả giá.
Tháng 12 âm lịch năm 2010 tôi được một chỉ dẫn đến mua xe tại một địa điểm ở quận 12, TP.HCM.
Người giới thiệu cho biết, ở đó có 2 chiếc Toyota Inova đời 2007 giá chỉ 330 triệu. Trong lúc giá xe đời 2006 ở các tiệm bán xe cũ ít nhất phải 550 triệu cùng thời điểm.
Thử xe xong, thấy mọi việc ổn cả nhưng nhìn đồng hồ hiển thị km đã sử dụng, tôi phát hoảng: xe đã chạy 380.000km!
Nếu với dạng xe nhà, xe cơ quan, người ta chạy bình quân một tháng lối 2.000km, thì số km “từng trải” của chiếc xe này tương đương với 19 năm.
Với xe hơi, cốt cách nó là một hệ thống máy cơ học. Khi dùng, nó sinh nhiệt và mài mòn nên dù chưa có bệnh tật, đâm đổ gì nhưng chỉ số này báo hiệu thời kỳ “thoái hóa, biến chất” nằm ngay sau đó. Xe có thể chạy tốt được… vài tháng nữa, sau đó sinh bệnh suốt ngày, rất khó chịu.
Cách đây 3 năm, tôi có mua một chiếc Toyota Cressida tại Hạ Long. Chiếc xe này sản xuất từ năm 1996 nhưng mới chạy 100.000km. Lấy chỉ số bình quân mỗi năm đi 24.000km thì xe này chỉ xem như đời… 2004, mà giá con xe này chỉ có 150.000 triệu đồng, chưa bằng hai lần một chiếc xe gắn máy cao cấp.
Sau ba năm sử dụng, hầu như thợ xe chưa kiếm được đồng nào từ nó, chạy rất yên tâm, có điều dòng xe này thuộc loại VIP, máy xăng 2.4 nên hơi hao xăng, tầm 11 lít/100 km. Đó cũng là lí do khiến chủ cũ của nó ít dùng. Ông này là một quan chức ngành tài chính bị thất sủng, cuộc sống sau này hơi khó khăn, không như thời đương chức, xe “đắp chiếu” 5 năm xong, phải bán.
Nhưng, nếu cân bằng tiền xăng đắt hơn xe mới (chừng 3 lít/100km) với tiền đầu tư 5 lần hơn để có chiếc xe mới tương tự (Camry 2.4 chẳng hạn) thì chi tiêu này thực ra rất rẻ, không có gì đáng suy nghĩ.
Tương tự, nhiều chủng xe được xem là rất tốt, thương hiệu rất mạnh như Ford Escape 3.0 đời 2003 chẳng hạn, mạnh mẽ và “hoành tráng” không kém bất cứ một chú dạng SUV nào nhưng giá chỉ bằng nửa, lối 17.000-20.000 USD.
Khái niệm “tiền ít, thịt nhiều” , “cũ người - mới ta” là như vậy.
Trong những xe được bán, yếu tố “sử dụng ít” rất nhiều. Có nhà đi công tác nước ngoài liên miên, xe “nghỉ hưu” rất nhiều thời gian, nay bị “đề mốt” muốn bán để mua xe mới. Có nhà lại xuất phát từ hoàn cảnh, ví như chủ xe chỉ mua về để đó rồi đi xe… gắn máy vì đi xe hơi quá bất tiện (Hà Nội, Sài Gòn thường có cảnh này), nay bán đi cho “rảnh nợ”. Có xe bị cầm cố, thế chấp liên miên hoặc bị cơ quan hữu trách chế tài, hạn chế sử dụng, lưu kho…
Năm 2008, tại salon xe cũ trên đường Lò Đúc Hà Nội, gần ngã tư Hòa Mã có nhập từ Hồng Kông một loạt xe Nisan VIP cực sang, đen bóng đời… 1995, nhưng vì lí do gì đó nó chưa hề được sử dụng. Chúng tôi không tin và chủ cửa hàng phải chứng minh bằng một loạt chứng từ gốc, tiếng Anh cho thấy do vướng mắc tài chính gì đó nên một seri xe này, lối 300 chiếc, nhập từ Nhật vào Hồng Kông phải tái xuất về Việt Nam. Hải quan Việt Nam đã xác nhận điều này và về nguyên tắc, thời điểm đó chưa được nhập xe cũ cỡ này.
Giá loạt xe này chỉ bằng 60% xe mới mà xem ra các tiện nghi cho tới độ chắc bằng của khung sườn, nước sơn còn “ăn đứt” xe mới.

Làm sao biết xe ít sử dụng?
Có rất nhiều “bằng chứng” để biết xe đã sử dụng nhiều mà không cần nhìn vào đồng hồ hiển thị km, vả lại đồng hồ km là thứ người ta có thể điều chỉnh được, nên nếu tin vào đó nhiều khi sẽ thiệt thòi.
Bạn hãy chú ý các yếu tố dưới đây:
1. Cần số: các xe có số sàn càng dễ xem. Cầm cần số lắc qua lắc lại rãnh số “mo”. Xe mới khoảng cách cực đại rất ngắn, xe càng cũ khoảng cách càng rộng ra. Vào số (vẫn tắt máy) rồi lắc thử, nếu là xe mới, đã vào số hầu như rất ít độ “rơ” khi lắc, xe càng cũ độ “rơ” càng lớn. Chiếc xe trong ảnh đầu bài đời 2002, mới chạy 50.000km, tương đương hai năm mà giá chỉ bằng nửa xe mới.
2. Chú ý vị trí tay cầm vào cơ cấu để mở cửa ra của người lái, trừ trường hợp đã thay tháo, nhìn độ nhẵn, trơn láng của vị trí này là “đọc” được sự “kinh qua” của xe. Chủ xe khi tân trang có thể làm nội thất xe bóng lộn, thơm phức, mới mẻ nhưng ít chú ý đến điểm này. Vị trí này rất kín, vị trí cần xem càng kín hơn, nó ở phía trong của lẫy bật mở cửa.
3. Mở tấm lót sàn (2 lớp) đến tận lớp tôn. Dùng vật cứng bằng gỗ gõ vào đây và lắng nghe. Nếu xe cũ, đã chinh chiến nhiều, tiếng kêu mỏng, rạn. xe mới tiếng chắc, ấm.
Khi mở, quan sát luôn lớp sơn nguyên thủy. Cũ quá hoặc mới quá đều nằm trong diện nghi vấn. Cũ quá thì rõ, còn mới quá thì coi chừng, xe mới được “mông má” lại để bán.
4. Mở cửa gần vị trí lái xe ra khoảng 70 độ so với thân xe. Dùng hai tay bưng nhẹ cả tấm cửa lắc theo chiều lên, xuống. Xe dưới 5 tuổi gần như bản lề không có chút độ rơ nào cả. Xe cũ không thể tránh khỏi điều này. Tuy nhiên, phải quan sát vị trí 2 bản lề xem có gì khác thường không, hay đã bị thay rồi.
5. Nổ máy xe, đề lên vài chập rồi bỏ đấy, đi xem những vị trí khác chừng 8- 10 phút xe nổ tĩnh, quay lại nhìn vào kim đồng hồ báo nhiệt độ. Nếu mức chỉ vẫn dưới trung bình là xe còn hoàn hảo, ít chạy.
Sau thao tác này, mở nắp capo, dùng cảm giác của tay, mặt để cảm nhận nhiệt độ khu vực máy.
Với thời gian 8-10 phút chuẩn nổ máy không chạy, nếu xe tốt khu vực máy vẫn mát. Đặt tay lên nóc máy chỉ hơi ấm. Còn nếu xe quá cũ, cho dù tân trang đẹp đẽ đến đâu, chỉ nổ máy tĩnh 5 phút cũng sẽ rất nóng, khó chịu.
Chú ý khi nổ máy, nếu xe có đồng hồ tua máy, lúc đầu kim chỉ rất cao, nhịp máy hơi sạn, hơi giật nhẹ rồi êm dần, ga lên vài cái hết rung rật, hai ba phút sau mới ổn, rụt dần xuống vạch chuẩn là máy xe đã cũ.
Nếu xe tốt, khoảng dao động của kim này rất ngắn, cả về thời gian lẫn mức hiển thị kim trên đồng hồ (chỉ khoảng 1 phút là ổn định). Về thời gian, nếu chỉ sau 30-40 giây kim này đã nằm yên ở vị trí dưới 10 vạch đầu là xe còn rất tốt (khoảng 8 vạch nhỏ). Nếu cần đến cỡ 2 phút kim mới xuống dần là xe đã khấu hao.
6. Cuối cùng là một thao tác cần thiết: để nguyên xe nổ ở mức thấp, không mồi ga, vào số xong nhả “côn” thật từ từ, thật bài bản. Nếu xe trườn lên êm ái, không rung giật, không lựng khựng, không chết máy mà cứ nhanh dần lên, chạy trơn tru là xe còn tốt.
Vẫn thao tác trên, sau khi quan sát các bánh xe được bơm hơi, cân chỉnh tốt, chạy trên đường bằng, thẳng, bạn bỏ cả hai tay khỏi vô lăng thấy xe chạy thẳng tưng, ổn định ở tốc độ trên 30 km/giờ là yên tâm rồi.
Làm các thao tác ở phần 6 xong là “đọc” được chất lượng đại để của chiếc xe cũ.
Thao tác dưới đây nhằm tìm ra “con xe” lý tưởng, kể cả nó đã rất cũ: nổ máy, không ga mồi. Xe xuất phát trên đường bằng, bánh bơm chuẩn, chỉ ngồi hai người (mình và chủ xe) rồi nhấn côn, vào thẳng số 2 với xe dưới 2.0; vào thẳng số 3 với xe trên 2.4 rồi để nguyên chân ga, không thêm, nhả “côn” từ từ; khi bánh bắt đầu chuyển, dừng nguyên mức ga đó chừng 5 giây rồi nhả tiếp đến hết, vẫn không mớm ga mà thấy cái xe chạy tốt (từ 20-30 km/h); khi nhấn ga một chút, xe vọt ngay thì đó là xe còn rất tốt, lý tưởng.
Khi tiến hành thực nghiệm này, phải “nghe” coi ga-răng-ti đủ mạnh mới làm. Nếu ga nhỏ quá, cài số cao xe chết máy ngay.
Với loại xe này, có thể mua ngay, các khuyết tật khác nếu có, khắc phục sau.
Theo Huy Cường
Tamnhin.net

Chủ Nhật, 13 tháng 3, 2011

"Cú chuyển mình dữ dội" của nền kinh tế Việt Nam đầu năm 2011

VIT - Ba tháng đầu năm 2011, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước đi mới trong chính sách tài khóa. Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế thế giới, Chính phủ Việt Nam đang đi đúng hướng.

Thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt

Cuối tháng 2, Chính phủ thông qua nghị quyết về 7 nhóm giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội. 7 nhóm giải pháp đó là: Thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng; Thực hiện chính sách tài khoá chặt chẽ, cắt giảm đầu tư công, giảm bội chi ngân sách Nhà nước; Thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập siêu, sử dụng tiết kiệm năng lượng; Điều chỉnh giá điện, xăng dầu gắn với hỗ trợ hộ nghèo; Tăng cường bảo đảm an sinh xã hội; Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền để nhân dân hiểu và đồng thuận; Tổ chức thực hiện nghiêm túc, đồng bộ các giải pháp.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: tình hình hiện nay đặt ra nhiệm vụ cho cả nước phải tập trung sức bằng mọi giải pháp, mọi nguồn lực để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, làm được điều này sẽ duy trì được sản xuất, được an sinh xã hội. Đây là nhiệm vụ trọng tâm hiện nay của cả nước ta.

Thủ tướng nêu rõ cũng yêu cầu Bộ Tài chính và các cơ quan, địa phương phải thực hiện được mục tiêu tăng thu ngân sách năm 2011 từ 7 đến 8%, tiết kiệm chi tiêu 10%; dứt khoát phải giảm bội chi xuống dưới 5%; coi giảm bội chi là giảm cầu, làm giảm lạm phát. Bên cạnh đó không ứng vốn ngân sách nhà nước cho các dự án kéo dài, không cấp bách để bổ sung cho các dự án ưu tiên hoàn thành trong năm 2011.

Khẳng định việc điều chỉnh tăng giá điện, xăng dầu là việc không thể không làm, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề nghị các Bộ, ngành chức năng và địa phương thực hiện việc bù hỗ trợ giá điện cho các hộ nghèo theo đúng đối tượng, công khai, minh bạch.

Ngày 8/3/2011, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) cũng đã ban hành Quyết định số 379/QĐ-NHNN về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng.

Như vậy, đây là lần thứ hai kể từ đầu năm Ngân hàng Nhà nước tăng một số loại lãi suất điều hành. Lần trước, ngày 17/2, mức tăng lãi suất tái cấp vốn là từ 9%/năm lên 11%/năm. Đáng chú ý là trong lần điều chỉnh này, lãi suất tái chiết khấu được tăng mạnh, từ 7%/năm lên 12%/năm. Với quyết định trên, nhà điều hành tiếp tục thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ để góp phần kiềm chế lạm phát.

Kèm theo đó, nhà nước đã bắt đầu xóa USD “chợ đen” và cấm kinh doanh vàng miếng. Những động thái trên cho thấy quyết tâm của nhà nước trong việc kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế xã hội

Thế giới đánh giá cao chính sách tài khóa Việt Nam

Triển vọng kinh tế Việt Nam 2011 được nhiều chuyên gia trong nước cũng như quốc tế đánh giá cao khi Chính phủ đưa ra nhiều chính sách thắt chặt chính sách tiền tệ và tài khóa.

Theo Financial Times, Việt Nam đang thực hiện nhiều biện pháp để cải thiện sự ổn định kinh tế và tiến tới tăng trưởng ổn định. Những biện pháp mà Việt Nam thực thi gần đây như tăng lãi suất cho vay liên ngân hàng, hạ thấp mục tiêu tăng trưởng tín dụng, giảm chi tiêu công…, cho thấy quyết tâm của Chính phủ Việt Nam trong việc giải quyết ổn định kinh tế vĩ mô.

Ngân hàng Anh HSBC vừa đưa ra những nhận định lạc quan về nền kinh tế Việt Nam và cho rằng nền kinh tế của Việt Nam sẽ chuyển biến theo chiều hướng tốt trong năm nay.

Tờ Thời báo Tài chính của Anh vừa qua dẫn báo cáo của nhà kinh tế Sherman Chan của HSBC cho rằng các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam đang đi đúng hướng khi sau nhiều năm kinh tế tăng trưởng nhanh nhưng không bền vững, đã dẫn đến tình trạng lạm phát cao, thâm hụt thương mại lớn và đồng nội tệ liên tục yếu đi.

Ngân hàng HSBC cũng dự đoán việc thắt chặt tiền tệ và tài khóa sẽ có ảnh hưởng nhỏ đến tăng trưởng của Việt Nam. Do đó HSBC dự báo mức tăng trưởng của Việt Nam đạt 7% trong năm 2011; đạt 7,4% trong năm 2012. Mức lạm phát trung bình cả năm 2011 của Việt Nam được dự báo là 9,9%.

Bà nhận định Việt Nam đang thực hiện nhiều biện pháp để cải thiện sự ổn định kinh tế và tiến tới tăng trưởng ổn định. Bà cũng cho rằng nếu chính phủ thành công trong việc giải quyết những vấn đề đó thì Việt Nam sẽ vẫn cần tiếp tục các biện pháp trên khi phải chịu tác động của mức lãi suất đi vay 20% và những ảnh hưởng do cắt giảm chi tiêu vào cuối năm nay.
TN Tin tổng hợp
Nguồn tin: Diemtin - Cafef

Thứ Ba, 22 tháng 2, 2011

Báo Trung Quốc: Chiến lược biển và khu vực ưu tiên triển khai hàng không mẫu hạm

Bài đăng trên Vitinfo.vn - Thứ sáu, 18 Tháng 2 2011 15:43.

Bài viết đăng trên mạng “Thiết huyết Trung Quốc” cho rằng nhìn từ góc độ quân sự, mọi khó khăn của Trung Quốc ngày nay đều bắt nguồn từ chiến lược châu Á của Mỹ. Trong chiến lược phá thế bao vây của Mỹ, Trung Quốc cần theo nguyên tắc “yếu trước mạnh sau, dễ trước khó sau”. Trước tiên giải quyết vấn đề Biển Đông, sau đó giải quyết vấn đề Đông Hải. Để xoay chuyển thế yếu quân sự trước Mỹ, ý nghĩa về chính trị cao hơn ý nghĩa về quân sự. Do đó có thể phải ưu tiên triển khai hàng không mẫu hạm cũ nhập từ Ucraina là “Varyag” tại Hạm đội Bắc Hải, và bố trí hàng không mẫu hạm cỡ lớn do chính Trung Quốc tự sản xuất tại hạm đội Nam Hải và Đông Hải.




Sau những năm 50 của thế kỷ 20, Mỹ đã phong tỏa, bao vây toàn bộ vùng biển của Trung Quốc, tiến hành hai cuộc chiến tranh trên đất liền (Chiến tranh Triều Tiên và Việt Nam), kết cục là đều chịu thất bại và buộc phải có những điều chỉnh chiến lược. Mỹ đã chuyển từ tấn công quân sự sang bao vây quân sự: tại Đông Hải và Hoàng Hải xây dựng chuỗi đảo bao vây thứ nhất, tại Biển Đông kích động các nước Đông Nam Á giành giật các đảo với Trung Quốc, gây ra tình trạng tranh chấp phức tạp và mưu toan quốc tế hóa vấn đề này. Mỹ muốn dùng Biển Đông và Đông Hải để liên kết các chuỗi đảo, tạo ra hai "gọng kìm" nhằm bao vây toàn diện Trung Quốc.


Nếu Trung Quốc sử dụng ưu thế địa chính trị để hình thành sự đối kháng với Mỹ, rõ ràng trong cuộc đối kháng này, Trung Quốc ở vào thế yếu. Sự yếu thế này của Trung Quốc có thể nhận thấy khi Mỹ phái hàng không mẫu hạm đến Hoàng Hải diễn tập quân sự. Vì vậy, để xoay chuyển tình thế này, ý nghĩa về chính trị cao hơn ý nghĩa về quân sự, có thể phải ưu tiên triển khai hàng không mẫu hạm “Varyag” tại Hạm đội Bắc Hải (hàng không mẫu hạm cũ nhập từ Ucraina). Trong khi đó, Hạm đội Nam Hải và Đông Hải có thể phải bố trí hàng không mẫu hạm cỡ lớn do chính Trung Quốc tự sản xuất. Trong chiến lược phá thế bao vây của Mỹ, Trung Quốc cần theo nguyên tắc “yếu trước mạnh sau, dễ trước khó sau”. Trước tiên giải quyết vấn đề Biển Đông, sau đó giải quyết vấn đề Đông Hải. Đông Hải được Mỹ đầu tư công sức để xây dựng chuỗi đảo bao vây thứ nhất, có thể được coi là chuỗi đảo bất khả công phá. Nhưng thật sự chỉ cần thống nhất với Đài Loan, chuỗi đảo thứ nhất sẽ không cần công mà tự vỡ. Tuy nhiên, với thực lực của Trung Quốc hiện nay, việc thống nhất với Đài Loan là chưa thể làm được, vì vậy cần ưu tiên giải quyết vấn đề Biển Đông trước.


Biển Đông là tuyến biển đặc biệt quan trọng của Trung Quốc. Dầu mỏ từ Trung Đông, khoáng sản từ châu Phi đều phải đi qua Eo biển Malắcca và Biển Đông để vào Trung Quốc. Triển khai hàng không mẫu hạm tại Biển Đông mới có thể làm khiếp sợ một số nước Đông Nam Á. Tuy nhiên, vẫn không thể đảm bảo an ninh cho tuyến đường đại chiến lược trên biển của Trung Quốc, vì mấu chốt vẫn là Eo biển Malắcca và Ấn Độ Dương. Chỉ có hàng không mẫu hạm tiến ra Ấn Độ Dương, kiểm soát Eo biển Malắcca, triển khai căn cứ hải quân dọc Ấn Độ Dương, biến Biển Đông thành “nội hải” của Trung Quốc mới có thể giải quyết vấn đề Biển Đông một lần và vĩnh viễn.

Sau khi tuyến đường biển chiến lược của Trung Quốc được đảm bảo, Trung Quốc mới có thể yên tâm phát triển kinh tế, tăng cường sức mạnh quốc gia. Đợi đến khi cơ hội chín muồi, Trung Quốc sẽ tiến hành thống nhất với Đài Loan, phá vỡ thế bao vây của Mỹ. Như vậy, thứ tự ưu tiên bố trí hàng không mẫu hạm của Trung Quốc có thể là: Hạm đội Bắc Hải, Hạm đội Nam Hải và cuối cùng là Hạm đội Đông Hải; hoặc có thể đồng thời triển khai tại Hạm đội Nam Hải và Đông Hải.


Theo Thiết huyết Trung Quốc

Khổng Tử đã được rước về Thiên An Môn

Bài đăng trên Vitinfo.vn - Tin thế giới Thứ ba, 22/02/2011, 19:42(GMT+7)


VIT - Viện Bảo tàng Quốc gia Trung Quốc làm lễ khánh thành tượng đài Khổng Tử trên quảng trường Thiên An Môn. Một tượng đài đồ sộ có lẽ được du khách chú ý hơn một bức ảnh. Phải chăng họ Khổng đang lấn lướt họ Mao, học thuyết của hai vĩ nhân đang đổi vị trí cho nhau?


Hôm 11 tháng 1 vừa rồi, Viện Bảo tàng Quốc gia Trung Quốc làm lễ khánh thành tượng đài Khổng Tử trên quảng trường Thiên An Môn. Sự việc này đang gây xôn xao dư luận Trung Quốc, hàng triệu dân mạng nhao nhao phát biếu ý kiến, tranh cãi rất gay gắt.

Tượng đài đặt trước Viện Bảo tàng Quốc gia, đối mặt với bức ảnh Mao Trạch Đông trên thành lầu Thiên An Môn, xa xa bên kia đại lộ Trường An.

Đây là tác phẩm của nhà điêu khắc nổi tiếng Ngô Vi Sơn, Viện trưởng Viện Điêu khắc thuộc Viện Nghiên cứu Nghệ thuật Trung Quốc, Ủy viên Chính Hiệp toàn quốc [1]. Ông giới thiệu: Trong thời gian họp Quốc hội và họp Đại hội Chính Hiệp toàn quốc hồi tháng 3 năm ngoái, Giám đốc Viện Bảo tàng quốc gia đề nghị ông làm bức tượng này.

Tượng đài là một phần của công trình cải tạo mở rộng Bảo tàng Quốc gia chi phí hết 2,5 tỷ Nhân Dân tệ (380 triệu USD) tiến hành trong mấy năm nay. Tượng đúc bằng đồng đen, cao 7,9 m, nặng 17 tấn, bệ cao 1,6m, tổng chiều cao 9,5 m, theo đúng quy cách kiến trúc Cửu Ngũ chi tôn dành cho bậc đế vương. Dòng chữ tên Khổng Tử và năm sinh, năm mất, đúc bằng vàng gắn trên bệ do một đại gia Quốc học viết. Tượng đài hoàn thành trong 8 tháng, hơi vội cho nên khá thô, thoạt trông như một tảng đá, một hòn núi. Có thể đấy là dụng ý của tác giả.

“Vị thánh nhân vĩ đại ấy tiên tri tiên giác, tựa hồ dự kiến được 2500 năm sau mảnh đất Trung Hoa này sẽ trời yên biển lặng, quốc thái dân an” – Ngô Vi Sơn phát biểu trong lễ khánh thành tượng đài.
Chắc là ông Ngô muốn nhắc tới thời Chiến quốc đại loạn quần hùng tranh bá xa xưa và cái thời hết “Chỉnh phong”, “Tam phản ngũ phản” lại đến “Cách mạng văn hoá” không lúc nào yên ổn hồi thập niên 40-70 thế kỷ XX.

Lịch sử Trung Quốc cho thấy, đạo Khổng chỉ được tôn vinh khi đất nước này thái bình. Sau ngày Chủ tịch Mao qua đời, Trung Quốc tập trung phát triển kinh tế, không say mê đấu tranh nội bộ như trước. Hơn ba chục năm trôi qua, trời đã yên biển đã lặng, thánh nhân được rước về nơi linh thiêng nhất trong lòng người Trung Quốc – quảng trường Thiên An Môn.

Cụ Khổng trong tượng y phục giản dị, hông bên trái đeo bảo kiếm, hai tay chắp vào nhau, mắt đau đáu nhìn về phương xa, nét mặt đôn hậu hiền từ, vẻ cam chịu – chứ không mỉm cười như quy định về tượng Khổng Tử do Hội Khổng Tử đặt ra trước đây dăm năm.

Cụ cam chịu là phải. Số phận cay đắng đến với Khổng Tử ngay từ hồi sinh thời, cụ bỏ ra 16 năm đi khắp thiên hạ du thuyết kêu gọi vua chúa các nước chấp nhận đường lối “Nhân trị” (Nhân: thương người), nhưng chẳng ai nghe. Hơn 300 năm sau khi cụ chết, từ ngày Hán Vũ Đế “Bãi truất Bách gia, độc tôn Nho thuật” tên tuổi cụ mới được vinh danh suốt hai nghìn năm. Nhưng từ cuối thế kỷ XIX khi nhà Thanh khuất phục trước các đế quốc phương Tây, giới tân trí thức Trung Quốc tố cáo học thuyết của cụ là nguồn gốc làm dân tộc này hèn yếu, từ đó cụ bị phê phán suốt một thế kỷ. Cách mạng Văn hoá 1966-1976 vùi cụ xuống đất đen. Cụ chỉ còn được tôn vinh trong quần thể người Hoa ở ngoài đại lục. Từ ngày Trung Quốc cải cách mở cửa, Khổng Tử được dần dần ngẩng mặt, nay được rước về Thiên An Môn thực quá vinh hiển; nhưng nghĩ lại chuyện cũ, cụ chẳng tin lần này mình sẽ được tôn vinh mãi mãi, cho nên cụ chưa thể vui cười. Xem ra Ngô Vi Sơn rất hiểu tâm trạng Khổng Tử.

Quả vậy, tượng vừa dựng lên đã có vô số dân mạng đòi dỡ bỏ hoặc dọa dỡ bỏ. Lý do: Khổng Tử là đại diện cho tư tưởng phong kiến lạc hậu, trái với chủ nghĩa xã hội. Người ta chưa quên lời Chủ tịch Mao: Học thuyết Khổng Tử danh cao, thực ra là rác rưởi.

Tượng Đức Khổng nhìn sang thành lầu Thiên An Môn, nơi treo ảnh ông Mao; bức ảnh lớn nhất nước này cao 6 m, rộng 4,6 m, kể cả khung ảnh nặng tất cả 1,5 tấn, từng được 4 đời họa sĩ nổi tiếng tạo tác.

Hai thần tượng Mao-Khổng nhìn nhau qua khoảng cách chiều rộng một đại lộ, khiến du khách có cảm giác họ đang đối thoại với nhau vượt qua thời gian và không gian.

Một nhà báo bình luận: họ Khổng điềm đạm khuyên họ Mao nên thương người, dĩ đức trị quốc; họ Mao thì luôn tràn ngập trong niềm vui đấu tranh với trời với đất với người.

Việc dựng tượng do Bộ Văn hóa chủ trì, người ta đã trù tính chu đáo mọi chuyện để vong hồn ông Mao nếu có thức dậy cũng chỉ thấy đây là một việc không có mưu mô chính trị gì: địa điểm Nhà Bảo tàng Quốc gia vốn là nơi đặt trụ sở Bộ Lễ triều nhà Thanh, thuần túy thuộc về văn hoá. Việc xuất hiện tượng kẻ từng bị mình ra sức hạ bệ cũng không làm ông Mao lo ngại, bởi lẽ trên quảng trường này còn có Nhà Tưởng niệm Mao Trạch Đông đồ sộ, suốt ngày dân chúng xếp hàng vào xem, bên trong có bức tượng rất lớn của ông – nhà báo nói.

Lễ khánh thành tượng đài do Viện Bảo tàng Quốc gia tổ chức, khách mời cao nhất có Phó Chủ tịch Quốc Hội Tưởng Thụ Thanh và Phó Chủ tịch Chính Hiệp toàn quốc Tôn Gia Chính, hai nhân vật không có thực quyền, và một Thứ trưởng Bộ Văn hóa. Điều đó cho thấy người ta không muốn làm to chuyện này. Thực ra ai cũng biết dựng tượng Khổng Tử tại Thiên An Môn là chuyện rất nhạy cảm, không chỉ có ý nghĩa văn hoá, và phải được cấp rất cao duyệt y. Dư luận đang hỏi ai là người đưa ra chủ trương ấy, ý đồ sâu xa của nó là gì – chủ nghĩa dân tộc hay CNXH đặc sắc Trung Quốc? CNXH liệu có bị thay bằng Nho giáo hay không?

Sự kiện nói trên làm bùng lên một cuộc tranh cãi ầm ĩ, kẻ tán thành người phản đối. Dù ai nói gì, dù ai yêu hay ghét thì Khổng Tử vẫn là một nhân vật lịch sử không ai có thể bỏ qua.

Nhiều người cho sự kiện đó là một tín hiệu rất quan trọng chứng tỏ quốc gia vĩ đại này đang tìm về cội nguồn văn hoá của mình, Nhà nước muốn dùng văn hoá truyền thống để hội tụ niềm tin của toàn dân tộc. Người khổng lồ Trung Quốc đã trỗi dậy, có nền kinh tế lớn thứ hai thế giới rồi, nay cần tìm chỗ dựa văn hoá, tư tưởng. Lâu nay văn hoá phương Tây lấn át phương Đông, Trung Quốc chưa tận dụng được nền văn hoá lâu đời 5000 năm của mình để rèn được một tính thần dân tộc riêng, như thế sao có thể ngẩng cao đầu.

Có người nói sự kiện trên đánh dấu thời đại hệ tư tưởng phương Tây thống trị Trung Quốc đã trở thành quá khứ. Bao năm nay người Trung Quốc chỉ biết tiếp thu các tư tưởng đến từ phương Tây (Lenin đã bị quên từ lâu, còn Marx cũng bị coi là người phương Tây?). Đất nước chiếm 1/4 nhân loại này đã đến lúc cần xây dựng hệ tư tưởng riêng của mình cho xứng với tầm vóc một quốc gia đang sắp sửa dẫn đầu thế giới về quốc lực tổng hợp. Phục hồi học thuyết của Khổng Tử là hướng đi được lựa chọn.

Từ thập niên 90 thế kỷ XX, Trung Quốc bắt đầu dần dần phục hồi Quốc học, tức học thuật Trung Hoa. Đa số học giả Quốc học muốn phục hồi Nho giáo mà họ cho là quan trọng nhất. Chính quyền ngầm ủng hộ quan điểm đó. Học thuyết Khổng Tử từng trụ vững mấy nghìn năm trong xã hội nước này, rễ bén rất sâu, lấn át tất cả các học thuyết Đạo gia, Pháp gia v.v... Có điều, vua chúa phong kiến đề cao Khổng Tử nhưng lại không thực thi phần tốt đẹp nhất trong Khổng học là “Nhân trị”, vì thế làm mất thanh danh của cụ. Các học giả nói: xưa nay xã hội Trung Quốc có hai cụ Khổng. Một Khổng Tử đích thực, nhà hiền triết mà tư tưởng của cụ thể hiện trong sách Luận Ngữ có thể tóm gọn trong một từ Lương tâm xã hội – Khổng Tử ấy bị chế độ phong kiến lờ đi. Chúng lợi dụng một Khổng Tử “nhân tạo” được tô vẽ tâng bốc tới mức có người nói “Trời không sinh Trọng Ni, muôn đời như đêm tối”.

Nhưng việc phục hồi Nho giáo tiến hành rất trầy trật, dù có sự hậu thuẫn không ra mặt của chính quyền. Giới học giả phái Mác-xít cũng như phái tự do đều ra sức phản đối.

Học giả Lý Linh viết “Chó không nhà – Tôi đọc Luận Ngữ”, được bình chọn là sách hay nhất Trung Quốc năm 2007. Sách phê phán Nho giáo một cách hệ thống, lý lẽ sâu sắc khó có thể phản bác. Nhưng tên sách bị nhiều người phản đối. Tác giả thanh minh: Đây chính là lời Khổng Tử tự nói về cụ; bất cứ nhà trí thức nào hoài bão lý tưởng mà bất mãn với thế giới hiện thực thì đều là Chó không nhà...

Cùng thời gian ấy bà giáo sư Vu Đan lên Đài Truyền hình trung ương thuyết giảng ca ngợi Khổng Tử hết lời, được bàn dân thiên hạ (chủ yếu phụ nữ) khen hay. Các bài giảng ấy tập hợp thành sách “Vu Đan Luận Ngữ Tâm đắc” bán được mấy triệu bản, tác giả được bình chọn là một trong mấy người đẹp nhất Trung Quốc và được mời sang Đài Loan diễn thuyết.

Hai cuốn sách viết về đức Khổng, một phê phán tơi bời, một ca ngợi quá đáng, đều cùng là sách bán chạy nhất. Chuyện ấy có lẽ chỉ có ở Trung Quốc.

Vì sao Khổng Tử lại long đong lận đận như vậy?

Có thể kết luận: tất cả là do bàn tay các nhà chính trị quê hương cụ. Khi cần cụ thì người ta dựng cụ lên, khi không cần thì đạp đổ. Cũng con người ấy, học thuyết ấy, lúc thì ca ngợi lên mây, lúc thì vùi giập không thương tiếc. Tất cả chỉ để phục vụ mục đích sâu xa của tầng lớp cầm quyền.

Nho giáo trọng lễ giáo, đề xướng “Quân quân thần thần”, tức ai nấy nên tôn ti trật tự vua là cao nhất, rồi đến quan, chớ có “vượt rào”. Hán Vũ Đế phát hiện Nho giáo có thể củng cố vương triều mình, vì thế đưa học thuyết ấy lên làm hệ tư tưởng của chế độ phong kiến. Mao Trạch Đông muốn lật đổ sự lãnh đạo của Lưu Thiếu Kỳ và “Phái đương quyền” chống Mao, vì thế ông phải đánh đổ Nho giáo, khuyến khích Hồng Vệ Binh “Tạo phản”. Khi Giang Thanh muốn hạ bệ Thủ tướng Chu Ân Lai có cốt cách nhà Nho trung dung đang chặn con đường thăng tiến của mình, bà ta phát động phong trào “Phê Lâm phê Khổng”.

Hơn ba chục năm sau khi Mao qua đời, tượng Khổng Tử chễm chệ ngự ngay tại Thiên An Môn. Rõ ràng, ngài lại được dùng để phục vụ nhu cầu chính trị trong thời kỳ mới, khi Trung Quốc đang tiến lên ngôi vị siêu cường thế giới.

Trước hết là nhu cầu làm cho nội bộ xã hội được hài hòa, yên ổn. Sau 30 năm cải cách mở cửa, kinh tế phát triển thần tốc, đất nước giàu lên chưa từng thấy, cái bánh ga-tô thành quả kinh tế ấy nên phân chia thế nào cho được lòng tất cả mọi người, chuyện ấy đã trở thành vấn đề lớn nhất bên trong xã hội Trung Quốc. Do tác động của các nhóm lợi ích, của cái gọi là chủ nghĩa tư bản thân quen (cronycapitalism), sự phân phối thành quả kinh tế ngày càng bất công, lắm nơi dân nghèo tức giận biểu tình phá phách, giữ ổn định xã hội trở thành vấn đề gay cấn nhất hiện nay. Ban lãnh đạo nước này đề xuất phải thực hiện ý tưởng xã hội hài hòa. Liên kết ý tưởng ấy với vị Chí thánh tiên sư cách đây 2500 năm sẽ thể hiện ý tưởng cai trị xã hội hiện nay là có nguồn gốc lịch sử và trí tuệ sâu xa, như thế sẽ dễ giành được sự đồng thuận xã hội. Truyền thống bao giờ cũng là nguồn sức mạnh vô biên, không nhà lãnh đạo nào không tận dụng. Giờ đây người ta giải thích chữ “Hòa” (hòa bình, hài hòa ...) như sau: bộ Hòa bên trái nghĩa là thóc gạo, chữ Khẩu bên phải nghĩa là ăn; dân có thóc gạo ăn thì dĩ nhiên là hoà bình, hài hòa rồi. Chữ “Hài”: bộ Ngôn bên trái nghĩa là nói, chữ Giai bên phải nghĩa là “tất cả đều”; khi mọi người đều được quyền nói tức là dân chủ, là hài hòa với nhau.

Thứ hai là nhu cầu đối ngoại. Trên thế giới, Khổng Tử là người Trung Quốc nổi tiếng nhất xưa nay; Nho giáo của cụ gắn liền với lịch sử đất nước này, chả thế nhà chính trị học người Mỹ Huntington xếp văn hoá Trung Quốc vào loại hình văn hoá Nho giáo. Mao Trạch Đông từng nói Khổng Tử là thánh nhân của Trung Quốc phong kiến, Lỗ Tấn mới là thánh nhân của Trung Quốc hiện đại. Nhưng thời nay lời ông Mao đã mất thiêng. Khổng Tử dường như đã trở thành đại diện duy nhất của văn hoá Trung Hoa xưa và nay. Chính phủ Trung Quốc bỏ tiền tỷ ra xây dựng Học viện Khổng Tử khắp thế giới để quảng bá nền văn hoá của nước họ.

Sau khi biết tin Lưu Hiểu Ba được tặng giải Nobel hoà bình, một số học giả Trung Quốc phản đối sự trao giải này đã đặt ra “Giải hoà bình Khổng Tử (Confucius Peace Prize)” để đối chọi lại giải Nobel [2]. Rõ ràng Trung Quốc muốn dùng văn hoá Khổng học để chống lại “sự xâm lăng của văn hoá phương Tây”. Họ ra sức tuyên truyền ý tưởng văn hoá phương Đông đang thay thế văn hoá phương Tây dẫn đầu thế giới. Tư tưởng Khổng Tử sẽ là thứ sức mạnh mềm mà Trung Quốc đang thiếu, khi sức mạnh cứng của họ đã khá đủ để chọi lại phương Tây.

Chắc chắn quá trình phục hồi Nho giáo sẽ gặp nhiều khó khăn. Sau cả thế kỷ bị vùi giập, Nho giáo gần như đã chết trong lòng người Trung Quốc, nay khó có thể trở lại vị trí như trước; nhất là vì nó đi ngược với chủ nghĩa cộng sản, với trào lưu hiện đại hoá. Gần đây không ít nhân vật có máu mặt ở Trung Quốc vẫn lên tiếng phê phán nó. Trung tướng Lưu Á Châu Chính ủy ĐH Quốc phòng Trung Quốc nói Nho giáo là triết học của xã hội quan trường hoá, chủ trương ngu dân; Nho giáo có tội với người Trung Quốc ...

Thế nhưng tượng Khổng Tử đã được dựng tại nơi ảnh Mao Trạch Đông độc chiếm từ năm 1949 tới nay. Việc này rõ ràng có ý nghĩa chính trị chứ không đơn thuần chỉ để thu hút khách du lịch. Một tượng đài đồ sộ có lẽ được du khách chú ý hơn một bức ảnh. Phải chăng họ Khổng đang lấn lướt họ Mao, học thuyết của hai vĩ nhân đang đổi vị trí cho nhau?

Sự kiện trên khiến người ta không thể không đặt dấu hỏi về định hướng phát triển chính trị của Trung Quốc trong tương lai. Song có lẽ chẳng ai có thể đưa ra kết luận gì, bởi lẽ Trung Quốc xưa nay bao giờ cũng là một đất nước thần bí, khó hiểu./.

Ghi chú

[1] Tương đương Ủy viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

[2] Hôm 9/12/2010 Ban Bình chọn giải Hòa bình Khổng Tử (gồm 6 giáo sư ĐH Bắc Kinh, ĐH Sư phạm Bắc Kinh và ĐH Thanh Hoa) đã làm lễ trao giải này đầu tiên tại Bắc Kinh, người được tặng là ông Liên Chiến Chủ tịch danh dự Trung Quốc Quốc Dân Đảng (ở Đài Loan) “do có đóng góp cho việc bắc cầu hòa bình giữa hai bờ eo biển Đài Loan”; nhưng ông này nói không biết có giải này và không sang Trung Quốc nhận giải. Kết quả một bé gái 6 tuổi được nói là “đại diện cho Liên Chiến” lên nhận giải trị giá 15000 USD. Có dân mạng TQ nói giải này cũng như tượng Khổng Tử tại Thiên An Môn, chỉ là trò hề.

Nguyên Hải

Thứ Năm, 17 tháng 2, 2011

Chính khách, quan chức, công dân và số phận đất nước


Tác giả: TS Nguyễn Sỹ Phương, CHLB Đức
Bài đã được xuất bản trên VietnamNet: 17/02/2011 05:00 GMT+7

Hai kết quả trái ngược nhau, Mohamed Bouazizi bị chết thảm kéo theo cả chế độ Ben Ali bị sụp đổ, Hải Hà, Hải Linh được ở lại Đức với một chính thể mạnh hàng đầu thế giới, đều chi phối bởi quy luật nhân quả: chế độ đó có tính người hay không - được đo lường trước hết bởi chính hành xử của hệ thống quan chức chính khách tạo nên thể chế đó trước những đòi hỏi của từng thân phận, cuộc sống thường nhật của mỗi con người, bất luận là nhà nước gì; cùng ý thức trách nhiệm của mọi công dân trước đồng loại mình, dù họ là ai!


Luật pháp cũng phải có tính người chứ

Theo thống kê gần nhất, thành phố Leipzig, Đức, có 2.438 người Việt / tổng số 27.057 người nước ngoài sống ở Leipzig, đến từ 60 quốc gia, chiếm vị trí thứ 1. Leipzig có 2914 doanh nghiệp ngoại kiều, thì người Việt sở hữu 518 doanh nghiệp, tương đương 5 người / 1 doanh nghiệp. Tỷ lệ học sinh tiểu học vào học trường phổ thông phân ban (hệ vào thẳng đại học) chiếm tới 79% cao hơn bất kỳ sắc tộc nào kể cả người Đức chỉ 43%.

Tiếng Việt được coi là môn ngoại ngữ dạy trong 13 trường phổ thông, ngân sách thành phố chi mỗi năm hàng chục nghìn Euro tổ chức dạy ngoại khoá cho con em người Việt. Tên tuổi người Việt nổi bật trong các chương trình đa văn hoá của thành phố, trong các chuyên đề nhập cư, được các chính khách trong vai trò lãnh đạo đảng phái, cơ quan dân cử, coi là biểu tượng hoà nhập của người nước ngoài, như Ông Tiefensee, chính khách đảng SPD, sau này trở thành Bộ trưởng Giao thông Liên bang, lúc còn là thị trưởng thành phố, trong một lần tới dự Tết Nguyên Đán, khẳng định: Cộng đồng người Việt đã tô thêm sắc mầu đẹp đẽ cho nền văn hoá Đức.

Như mọi Tết, dịp tốt nhất cho cộng đồng người Việt thể hiện mình, Tết Tân Mão lần này được Hội người Việt chuẩn bị công phu cả tháng trời, thông báo cho Sở Nội vụ thành phố theo luật định. Hai ngày trước Tết, họ tới kiểm tra, phát hiện hội trường chủ cho thuê không đảm bảo quy phạm Luật phòng chống cháy về cửa thoát hiểm, chỗ tập kết xe cứu hỏa, sử dụng lò sưởi đốt khí trực tiếp loại bị cấm..., liền lập biên bản tổng kết các hạng mục phải khắc phục. Chủ cho thuê người Việt bỏ qua nhiều điểm, bởi hội trường vốn được cải tạo từ một nhà kho, đảm bảo tiêu chuẩn không dễ, cũng có thể do không nắm vững luật pháp, phần ỷ vào thế Tết là một sự kiện trọng đại đã hoàn tất mọi khâu chuẩn bị, mời cả chủ tịch, quan khách thành phố tới dự, lên lịch trước cả tháng, không thể dịch lịch hay hủy.

Một tiếng rưỡi trước giờ khai mạc, họ tới nghiệm thu, với đầy đủ quan chức phòng ban, từ Sở Nội vụ, đến Xây dựng, Môi trường, Phòng chống cháy, Qủan lý thị trường, Cảnh sát. Hội trường đang nhộn nhịp hoàn tất những công đoạn cuối cùng, sân khấu, phông màn nổi bật con mèo ngộ nghĩnh, mắt tinh ranh, dàn nhạc đang thử âm thanh réo rắt, ánh sánh lấp lánh đủ mầu, rượu, mứt bày đầy bàn, ẩm thực đủ các món thuần Việt ngào ngạt. Đoàn quan chức liên ngành mở biên bản hôm trước, dò tất cả 9 hạng mục thì tới quá nửa không thực hiện.

Nhiều lý do được đưa ra biện hộ, rồi viện cả ý nghĩa trọng đại nhất, văn hoá tâm linh Tết kiêng cữ xui xẻo, đến cả tình hữu nghị 2 dân tộc, tới cả chủ tịch thành phố đang trên đường tới dự, nhưng viên quan chức trưởng đoàn vẫn dứt khoát một mực: luật là luật ! Là quan chức hành xử, chúng tôi không thể làm khác, bởi bất kỳ lệnh ai, hay vì bất cứ mối quan hệ nào, do mục đích gì, ngoại trừ có phán quyết khác của toà án. Một luật sư Đức, khách mời tới dự Tết, ra sức thương thảo giúp, cũng đành phải lắc đầu: Thủ tướng có tới đây cũng đành chịu.

Rốt cuộc, Hội trường bị cảnh sát niêm phong. Đồ ăn, thức uống, chuẩn bị cho nghìn người, tất cả đều phải thu dọn đưa ra ngoài. Tết vậy là hết ! Tội các cháu tập dượt muá từ sáng liên thông chờ biểu diễn, tiu nghỉu. Nhiều người tiếc uổng công sức, phản đối: ừ thì luật, nhưng cũng phải có tính người chứ !

Đúng! Luật pháp, cũng có nghĩa thể chế, nhà nước, sinh ra để phục vụ lợi ích con người, không thể không mang cốt lõi tính người. Viên trưởng đoàn thẳng thắn: Luật phòng chống cháy đặt tính mạng con người trên hết. Nếu vẫn thấy không có tính người, các ngài luôn có cơ hội chống lại nó, viện khẩn cấp đến toà án - quyền của bất kỳ công dân nào.

Gia đình ông Trần ở thành phố Tübingen, nhập cảnh ở lại Đức không giấy tờ từ năm 1992, có 3 con đều chào đời tại đây, ròng rã 13 năm trời thấp thỏm chờ trục xuất cho tới năm 2005, lúc Hải Hà lên 12 tuổi, Hải Linh 11 và Hải Nam 5 tuổi. Theo đúng Luật Ngoại kiều, bước chân vào Đức, gia đình ông đệ đơn xin hưởng quy chế tỵ nạn, nhưng không được chấp thuận, tiếp đến kiện ra toà bị toà bác bỏ, liền đó đệ đơn tới Ủy ban khiếu nại của Quốc hội tiểu bang cũng bị từ chối. Trông chờ vào cứu cánh cuối cùng, năm 2005 ông đệ đơn tiếp đến Ủy ban cứu xét các trường hợp đặc biệt, cũng bị từ chối nốt. Mọi cơ hội pháp lý ở lại vậy là chấm hết. Kết quả, cảnh sát buộc phải cưỡng chế cả nhà từ sáng sớm hôm có lệnh trục xuất ra sân bay.

Trong những năm chờ cứu xét, cả gia đình ông Trần được nhà nước trợ cấp bảo đảm cuộc sống, bảo hiểm xã hội, cùng mọi quyền cơ bản của ngoại kiều sống ở Đức. Lúc này, 2 bé lớn đã học tới lớp 6 và lớp 5, đều giỏi nhất lớp, danh tiếng được cả trường đặc biệt chú ý. Tin Hải Hà, Hải Linh, cùng bé 5 tuổi Hải Nam và bố mẹ bị cảnh sát bắt chở ra sân bay trục xuất, như sét đánh chấn động toàn trường. Học sinh nháo nhác hỏi nhau, đứa nào đứa nấy, mắt đỏ hoe, nhiều đứa khóc tức tưởi, người bạn học giỏi nhất, tấm gương điển hình nhất, luôn vui vẻ, thân thiện giúp đỡ chúng như những người ruột thịt, bỗng nhiên bị cướp đi, không cả cho chúng được một lời vĩnh biệt.

Ý thức tự nhiên về quyền con người, quyền đòi hỏi trách nhiệm nhà nước trước dân, từ tấm bé của người Đức - nền tảng chắc chắn cho bất cứ dân tộc nào muốn mọi thế hệ đều có thể làm chủ đất nước mình, chứ không phó mặc cho cơ quan công quyền - thúc đẩy chúng hành động. Hết buổi học, bọn trẻ cả trường hò nhau thảo kháng thư tập thể gửi lên Bộ trưởng Nội vụ Tiểu bang chịu trách nhiệm về ngoại kiều, đòi trả lại Hải Hà, Hải Linh cho chúng, với lý lẽ hiển nhiên: Người ta sinh ra lớn lên ở đâu, thì đó là quê hương. Trục xuất Hải Hà, Hải Linh ra khỏi quê hương là không có tính người !

Rất may, tới giây phút cuối cùng cưỡng chế lên máy bay, một án trát khẩn cấp của toà án hành chính tiểu bang bác bỏ lệnh trục xuất, được gửi bằng công điện tới cảnh sát áp giải, nhờ có luật sư nộp đơn xin tỵ nạn cho đứa con thứ 2 của gia đình và đệ đơn khẩn lên toà đòi can thiệp theo luật tỵ nạn, cho phép người đệ đơn xin tỵ nạn chưa xét xử được ở lại Đức chờ kết qủa. Rốt cuộc, cảnh sát phải hộ tống gia đình ông Trần trở lại, để chờ xét đơn tỵ nạn đã đệ trình. Tuy nhiên, đơn này gia đình ông Trần cầm chắc sẽ bị từ chối, lại tiếp tục thấp thỏm trước một tương lai trục xuất khó tránh, nếu luật pháp Đức không thay đổi.

Kháng thư tập thể học sinh chống lại lệnh trục xuất không tính người, gây hiệu ứng dây chuyền ngay lên giới chính khách. Nghị sỹ Tiểu bang, thuộc đảng SPD, lập tức viết thư chất vấn Chủ tịch Chính phủ vùng, quan chức cao nhất chịu trách nhiệm cuối cùng đối với lệnh trục xuất. Chủ tịch giải trình, luật pháp đã buộc họ không thể làm khác, sau khi mọi cơ hội pháp lý cứu giúp ông Trần đã khai thác hết.

Nhiều nghị sỹ, đảng phái khác vào cuộc lên tiếng phản đối, đến tận nhà tìm hiểu, gửi thư can thiệp tới các quan chức liên quan. Trường học của Hải Hà, Hải Linh kiên quyết bảo vệ học sinh mình, liên kết với các hội sáng kiến được thành lập mang tên vì gia đình ông Trần, tổ chức nhiều cuộc vận động rộng khắp, thu được hơn 1500 bức thư gửi tới, tập hợp được 4500 chữ ký ủng hộ chỉ trong vòng 5 tuần sau vụ trục xuất bất thành, chuyển tiếp lên Bộ trưởng Nội vụ Tiểu bang.

Sức mạnh phong trào đấu tranh tiếp sức cho các nghị sỹ, họ ra thông cáo báo chí và đòi Bộ trưởng Nội vụ tiểu bang phải tìm kiếm một giải pháp pháp lý cho phép những người lưu trú đã lâu được ở lại, may ra mới giải quyết được những trường hợp như gia đình ông Trần. Sự kiện trục xuất bất thành gia đình ông Trần vậy là vượt ra khỏi phạm vi gia đình, trở thành đề tài tranh cãi nóng bỏng trên chính trường Đức về chính sách lưu trú đối với ngoại kiều, rốt cuộc được đặt lên bàn Hội nghị Bộ trưởng Nội vụ các Tiểu bang năm đó, và tại đấy một dự luật bổ sung luật lưu trú được soạn thảo.

Kết qủa, dự thảo được Hạ và Thượng viện Đức chấp thuận, bổ sung vào Luật Lưu trú, điều 104 a cho phép người nước ngoài có con chưa trưởng thành, cũng như những người con đã trưởng thành sống độc lập, bị từ chối cấp giấy phép lưu trú, nhưng đã ở Đức ít nhất 6 năm, được quyền ở lại, đúng đòi hỏi của học sinh trường học Hải Hà, Hải Linh: người ta sinh ra lớn lên ở đâu, thì đó là quê hương! Tính người không cho phép trục xuất họ. Luật pháp ra đời không hẳn từ những bộ óc cao siêu nghĩ ra mà bắt đầu chỉ từ tiếng nói của những đứa trẻ - một lẽ thường, nếu hiểu luật pháp xuất phát từ từng con người vì từng con người, và do từng con người, phải có trong một nhà nước mang tính người.

Có thể liên tưởng đến thời sự chính trị thế giới hiện nay. Không có mối liên hệ nào giữa người sinh viên Mohamed Bouazizi ở nước Tunisie thất nghiệp phải tự kiếm sống bằng bán rau quả rong, không giấy phép, bị tịch thu, với Hải Hà, Hải Linh bị từ chối giấy phép lưu trú, đành chịu cưỡng chế ra sân bay trục xuất.

Không có mối liên hệ gì giữa cảnh sát Tunisie tịch thu hàng hoá của Mohamed Bouazizi với cảnh sát Đức trong trường hợp cưỡng chế Hải Hà, Hải Linh, hay niêm phong hội trường tổ chức Tết Tân Mão người Việt; cũng như giữa Mohamed Bouazizi phải tự thiêu để phản đối với học sinh trường học Hải Hà, Hải Linh thảo thư phản kháng; giữa ty cảnh sát Tunisie không chịu tiếp thỉnh cầu của Mohamed Bouazizi với Bộ trưởng Nội vụ tiểu bang ủng hộ thư của học sinh trường Hải Hà Hải Linh, hay giải thích của cảnh sát khi niêm phong hội trường; giữa một phong trào từ trẻ em tới người dân đến chính khách ủng hộ Hải Hà, Hải Linh với một guồng máy nhà nước Tunisie thờ ơ vô cảm trước nạn nhân của chính quan chức nhà nước đó.

Nhưng cả hai kết quả trái ngược nhau, Mohamed Bouazizi bị chết thảm kéo theo cả chế độ bị sụp đổ, Hải Hà, Hải Linh được ở lại Đức với một chính thể mạnh hàng đầu thế giới, đều chi phối bởi quy luật nhân quả: chế độ đó có tính người hay không - được đo lường trước hết bởi chính hành xử của hệ thống quan chức chính khách tạo nên thể chế đó trước những đòi hỏi của từng thân phận, cuộc sống thường nhật của mỗi con người, bất luận là nhà nước gì; cùng ý thức trách nhiệm của mọi công dân trước đồng loại mình, dù họ là ai!