Thứ Tư, 27 tháng 4, 2011

Tranh cãi Biển Đông: Bài học từ sai lầm của Philipines

Tác giả: DƯƠNG DANH HUY

Những tin tức xuất hiện trong tháng này về việc Philippines phải ngừng công tác nghiên cứu thăm dò tại khu vực Reed Bank (Bãi cỏ rong) thuộc đảo Palawan sau khi bị hai tàu tuần tra Trung Quốc quấy nhiễu, đã làm rõ hơn khả năng xung đột tại Biển Đông.

Khi sự quả quyết ngày một lớn của Trung Quốc trong việc theo đuổi chủ quyền ở hầu như toàn bộ Biển Đông là điều rõ ràng, thì thực tế những quốc gia nhỏ hơn trong cuộc tranh chấp gồm Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia và Việt Nam - lại chưa tìm được tiếng nói chung hay sức mạnh tập thể, lại càng làm trầm trọng thêm chuyện tìm ra một giải pháp cho vấn đề.

Đặc biệt là Philippines, đã phạm một số sai lầm chiến lược mà tất cả các bên liên quan có thể rút ra bài học từ đó.

Lỗi đầu tiên là vào năm 2004, khi Philippines "phá vỡ hàng ngũ" với các quốc gia khác có liên quan và trở thành nước đầu tiên ký một thỏa thuận với Trung Quốc để cùng khảo sát địa chấn tại khu vực quần đảo Trường Sa đang tranh chấp. Thỏa thuận này khiến Việt Nam không còn lựa chọn nào khác mà phải miễn cưỡng tham gia, kết quả là Thỏa thuận ba bên về Hợp tác Nghiên cứu Hải dương (JMSU) ra đời năm 2005.

Nhưng JMSU bị chỉ trích rộng rãi ở chính Philippines và trong năm 2008 - giữa lúc xảy ra các cuộc tranh cãi gay gắt trong nước - Philippines trở thành quốc gia đầu tiên tuyên bố, thỏa thuận JMSU sẽ không được gia hạn sau khi hết hiệu lực. Tuy vậy, do "phá vỡ hàng ngũ" năm 2004, Philippines đã làm xói mòn quan điểm thống nhất của các nước nhỏ hơn trong cuộc tranh chấp Biển Đông.

Sai lầm thứ hai xảy ra vào năm 2009, khi Philippines không đệ trình lên Uỷ ban Ranh giới Thềm lục địa LHQ (CLCS) hồ sơ liên quan tới thềm lục địa ở Biển Đông. Việt Nam đã đệ trình báo cáo của riêng mình liên quan tới khu vực ở đông nam quần đảo Hoàng sa và một báo cáo chung với Malaysia về khu vực ở tây nam quần đảo Trường Sa. Việt Nam và Malaysia đã mời Philippines tham gia một báo cáo chung, nhưng phía Philippines từ chối.

Do Trung Quốc tuyên bố chủ quyền với phần lớn Biển Đông bằng cách đưa ra bản đồ hình chữ U (còn gọi là đường lưỡi bò) và sự vượt trội về cả sức mạnh cứng cũng như mềm của họ, các quốc gia nhỏ hơn có liên quan trong cuộc tranh chấp này cần biết sử dụng luật pháp quốc tế một cách thích hợp.

Trong nội dung tranh chấp hàng hải, có hai đạo luật đặc biệt quan trọng với các bên tuyên bố chủ quyền.

Thứ nhất là Công ước LHQ về Luật biển (UNCLOS), trong đó quy định rằng, tuyên bố chủ quyền với vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa chỉ bắt nguồn từ các đặc điểm đất liền (chứ không phải từ kiểu lập luận như "chủ quyền lịch sử"). Là một thành viên của UNCLOS, Trung Quốc phải tuân thủ nguyên tắc này.

Điều thứ hai cần xem xét là tập hợp những quy định trong quá khứ của Tòa án Công lý Quốc tế. Theo đó, các EEZ và thềm lục địa của các quần đảo nhỏ như Hoàng Sa và Trường Sa thường bị coi là không đáng kể so với các khu vực tương tự bắt nguồn từ những đặc điểm đất liền với đường bờ biển dài hơn nhiều. Chắc chắn là, không tòa án quốc tế nào công nhận các EEZ và thềm lục địa của Hoàng Sa và Trường Sa mở rộng vượt quá đường trung tuyến giữa các quần đảo này với những bờ biển xung quanh thuộc Biển Đông.

Hai đạo luật quốc tế có nghĩa là, các bên tuyên bố chủ quyền với Hoàng Sa và Trường Sa phải hạn chế tuyên bố chủ quyền hàng hải liên quan tới hai quần đảo này ở khu vực không vượt quá đường trung tuyến giữa các quần đảo với bờ biển xung quanh thuộc Biển Đông, và không vượt quá 12 hải lý tính từ Hoàng Sa và Trường Sa. Như thế có thể hiểu rằng, bản đồ hình chữ U của Trung Quốc - với tuyên bố chủ quyền hàng hải vượt quá đường trung tuyến - là không hợp lý. Thêm vào đó, thực tế là Hoàng Sa và Trường Sa là những khu vực tranh chấp, và vì thế không nhất thiết thuộc về Trung Quốc. Điều này vì thế sẽ có lợi không chỉ với các quốc gia nhỏ hơn trong cuộc tranh chấp, mà còn với cả các bên thứ ba có quyền lợi ở Biển Đông khi bản đồ hình chữ U của Trung Quốc bị bác bỏ.

Nếu Philippines hoặc tham gia một báo cáo chung với Việt Nam và Malaysia, hoặc có riêng báo cáo của mình về các khu vực liên quan tới Biển Đông, thì đã góp phần khẳng định nguyên tắc của UNCLOS đối với vùng biển này. Điều này đổi lại đã giúp cho nỗ lực khẳng định sự bất hợp lý về đường bản đồ hình chữ U của Trung Quốc, ví dụ như tăng cường các quyền của Philippines ở khu vực Reed Bank. Đáng tiếc là Philippines không làm cả hai điều này.

Sai lầm thứ ba là quyết định của Philippines khi đệ trình thư phản đối lên CLCS chống lại báo cáo của Việt Nam cũng như báo cáo chung của cả Việt Nam và Malaysia. Trong thư phản đối, Philippines trích dẫn việc tranh chấp với các đặc điểm đất liền, nhưng lại bỏ qua thực tế là các khu vực hàng hải được tạo ra bởi quần đảo Trường Sa - cấu thành nên vùng biển tranh chấp, lại không đáng kể.

Điều này có lợi cho phía Trung Quốc theo hai cách.

Đầu tiên, Trung Quốc không còn là nước duy nhất phản đối báo cáo chung của Việt Nam và Malaysia - Trung Quốc đã có thể bị cô lập trong sự phản đối một báo cáo chung của Việt Nam, Malaysia và Philippines. Nhưng thay vào đó là Trung Quốc và Philippines phản đối Việt Nam và Malaysia.

Thứ hai, hành động của Philippines có nghĩa là, Trung Quốc không còn là nước duy nhất bỏ qua thực tế rằng, EEZ và thềm lục địa được tạo ra bởi quần đảo Trường Sa không cho phép bất cứ quốc gia nào tuyên bố chủ quyền vùng biển với những giới hạn "tùy hứng".

Thú vị là, Indonesia sau đó đã đệ trình thư phản đối lên CLCS, chỉ trích sự phản đối của Trung Quốc. Bức thư nhấn mạnh "những đặc điểm hoặc rất xa, hoặc rất nhỏ ở Biển Đông không cấu thành nên vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa riêng", và vì thế, bản đồ đường chữ U của Trung Quốc "rõ ràng là thiếu cơ sở luật pháp quốc tế và tương đương với việc phá vỡ UNCLOS 1982".

Điều thú vị hơn là thực tế rằng, nếu Trường Sa không có riêng các EEZ và thềm lục địa, hoặc có rất ít các khu vực hàng hải này, Philippines sẽ đứng ở vị trí có lợi nhất so với các nước khác vì sự chồng chéo giữa các khu vực hàng hải do Trường Sa tạo ra hay do đường cơ sở của Philippines tạo ra sẽ được thu hẹp ở mức lớn nhất. Ở đây cũng sẽ không có cơ sở pháp lý cho bất kỳ bên tuyên bố chủ quyền nào với Trường Sa có thể tranh chấp với các quyền của Philippines với khu vực Reed Bank.

Vậy, cách nào là tốt nhất với các nước nhỏ? Thứ nhất, Philippines nên tham gia cùng Việt Nam, Malaysia và Indonesia trong việc khẳng định Trường Sa không có các EEZ hay thềm lục địa riêng, hoặc ít nhất là có rất ít các khu vực hàng hải này. Mặc dù quan điểm này sẽ không giải quyết được tranh chấp với Trường Sa, nhưng nó có nghĩa là phần lớn không gian hàng hải ở Biển Đông sẽ không phải là "đối tượng" tranh chấp, và sau đó sẽ thuộc về các nước này khi EEZ và thềm lục địa được tạo ra bởi các đường bờ biển và đường cơ sở quần đảo quanh Biển Đông.

Thứ hai, các nước nhỏ hơn trong cuộc tranh chấp nên bắt đầu tận dụng lợi thế nhóm của mình. Cụ thể là, họ nên ủng hộ việc mỗi bên có quyền có EEZ và thềm lục địa 200 hải lý được tạo ra bởi các đường bờ biển và đường cơ sở quần đảo quanh Biển Đông.

Một bước đi cụ thể nữa họ có thể thực hiện là đồng thuận với các quyền của Philippines tại khu vực Reed Bank, quyền của Malaysia ở khu vực James Shoal, của Indonesia ở Natuna Sea, và các quyền của Việt Nam ở Vanguard Bank và Nam Côn Sơn. Ở mỗi trường hợp, tiếng nói của năm quốc gia sẽ chống lại tuyên bố đơn độc của Trung Quốc, để dễ dàng thuyết phục quan điểm quốc tế về trường hợp của riêng mình, và góp phần ngăn chặn sự lấn át của Trung Quốc.

Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia và Việt Nam không bao giờ được quên rằng, đoàn kết sẽ đứng vững, bất đồng sẽ sụp đổ.

Thụy Phương Theo The Diplomat

Tiêu đề do Tuần Việt Nam đặt lại. Bài viết phản ánh quan điểm riêng của tác giả, không đại diện cho quan điểm của tòa soạn.

Trận quyết chiến chiến lược mẫu mực trên sông Bạch Đằng

QĐND - Thứ Bẩy, 23/04/2011, 22:20 (GMT+7)

QĐND- Trận quyết chiến chiến lược trên sông Bạch Đằng diễn ra đã trên 700 năm (9-4-1288). Nhưng nó vẫn còn nguyên giá trị và là một hình mẫu chuẩn mực về nghệ thuật lập, chuyển hóa thế trận, nắm bắt thời cơ, chỉ đạo và thực hành trận quyết chiến chiến lược trong kho tàng nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Trận quyết chiến chiến lược trên sông Bạch Đằng
Nghệ thuật lập và chuyển hóa thế trận

Trước khi quân Nguyên - Mông vào xâm lược nước ta lần thứ ba, Trần Quốc Tuấn khẳng định với các Vua Trần: Năm nay đánh giặc nhàn! Thực tế lịch sử đã diễn ra đúng vậy. Để có được nhận định đó, vị tướng đã 2 lần cầm quân chiến thắng giặc Nguyên - Mông hiểu rõ về thế mạnh của ta và có quá trình theo dõi sát sao, phân tích, đánh giá chính xác tình hình địch. Về phía ta, sau khi giành chiến thắng trong 2 cuộc chiến tranh trước (1258 và 1285), nội bộ vua tôi nhà Trần trở thành một khối đoàn kết, thống nhất, uy thế của Đại Việt ngày một lớn mạnh trong khu vực khiến nước láng giềng Chiêm Thành phía Nam buộc phải giảng hòa, tướng sĩ một lòng hừng hực khí thế và đúc rút được nhiều bài học, kinh nghiệm đánh địch. Thêm vào đó, quân ta nắm lợi thế phòng thủ chủ động, trong khi địch từ xa đến sức cùng lực kiệt, tâm lý lo sợ khi quay trở lại chiến trường đã 2 lần thất bại. Trong lần thứ 3 tiến đánh Đại Việt, đế chế Mông Cổ cũng không còn mạnh như trước do những mâu thuẫn nội bộ và hệ thống cai trị của đế chế này tại các dân tộc khác cũng đang bị lung lay bởi làn sóng nổi dậy khắp nơi.
Nhưng với tham vọng “rửa hận”, đánh nhanh, thắng nhanh, Hốt Tất Liệt vẫn huy động một đội quân hùng hậu với nhiều binh tài tướng giỏi thắng tiến Đại Việt. Biết được ý định của địch, quân ta dưới sự chỉ huy tài tình của Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn không tung lực lượng chủ lực đối đầu, thay vào đó phát động chiến tranh nhân dân với các cuộc tập kích nhanh, quy mô nhỏ vào các đơn vị địch. Xét về mặt chiến lược, ngay từ đầu địch đã thất bại. Kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh của địch bị phá sản hoàn toàn. Thêm vào đó, lực lượng của chúng bị hao tổn nặng nề do đi đến đâu cũng bị đột kích.
Không thể thắng nhanh, địch buộc phải chuyển sang tổ chức chiếm đóng một số khu vực, với đại bản doanh ban đầu ở Thăng Long, sau lui về Vạn Kiếp. Một khi buộc phải kéo dài cuộc chiến thì lương thực trở thành vấn đề cốt tử với địch. Tuyến đường biển vận chuyển quân lương đã bị ta khống chế hoàn toàn. Trước đó, đoàn thuyền lương do tướng giặc Trương Văn Hổ chỉ huy bị quân ta đốt sạch ở vùng biển Đông Kênh. Do quân ta đã thực hiện kế hoạch “vườn không nhà trống” từ trước, nên địch phải vơ vét lương thực của dân. Nhưng ngay cả việc cướp bóc của dân cũng không dễ dàng, chúng gặp phải sự phản kháng mãnh liệt và thường phải trả giá rất đắt. Lương thảo thiếu, thời tiết bắt đầu chuyển mùa, liên tục bị quấy đảo, trong khi hầu như chưa thấy bóng quân chủ lực của nhà Trần, quân địch số thì ốm yếu, thương vong, còn phần lớn mệt mỏi, nhụt chí.
Vậy là, sau 4 tháng trời thế trận và so sánh lực lượng trên chiến trường đã có những thay đổi căn bản. Địch từ chủ động lúc ban đầu, nay bị lâm vào thế bị động. Quân ta bằng những trận đánh nhỏ, vừa ở chính diện, vào 2 bên sườn và phía sau lưng địch cùng sự cơ động, né tránh, biến hóa tài tình vừa khiến địch tổn thất không nhỏ, vừa tăng khí thế quyết tâm diệt giặc. Nhận thấy đây là thời cơ có tính bước ngoặt của cuộc chiến, Trần Quốc Tuấn cùng các tướng lĩnh đã quyết định chuyển sang phản công chiến lược để kết thúc chiến tranh.
Nghệ thuật chỉ đạo, điều hành trận quyết chiến chiến lược
Trước tình thế có thể bị tiêu diệt hoàn toàn, Chủ tướng Thoát Hoan cùng với bộ chỉ huy của y quyết định rút quân. Để tránh bị tiêu diệt chúng tổ chức thành 2 đạo quân và rút theo 2 hướng. Đạo thứ nhất theo đường bộ, do Thoát Hoan cầm đầu. Đạo thứ hai rút theo đường thủy gồm có quân kị binh và bộ binh đi hộ tống, do Ô Mã Nhi chỉ huy.
Phán đoán đúng ý đồ của địch, Trần Quốc Tuấn đã tổ chức quân ta thành 2 mặt trận đón lõng đánh địch. Trên bộ, quân ta tổ chức các trận đánh phục kích, truy kích đạo quân do Thoát Hoan chỉ huy bằng nhiều trận đánh trên suốt dọc đường chúng rút qua, gây cho địch nhiều tổn thất và khiếp đảm, buộc chúng phải rút nhanh về nước. Mặt khác, ta thực hiện chiến thuật chia cắt triệt để giữa 2 đạo quân, làm cho chúng không có sự liên lạc và cơ hội chi viện lẫn nhau. Trong khi đó trên đường thủy, Trần Quốc Tuấn cùng bộ chỉ huy của mình nghiên cứu kỹ lưỡng, bí mật chuẩn bị trận địa mai phục tại cửa sông Bạch Đằng để thực hiện trận quyết chiến chiến lược. Như vậy ông quyết định chọn thủy binh địch là đối tượng tác chiến chủ yếu với địa bàn là vùng sông nước ở phía Đông Bắc của Tổ quốc.
Để cô lập địch, buộc địch phải triển khai rút quân theo kế hoạch của ta, ông cho phá cầu đường, chia cắt giao thông và phục kích dọc 2 bờ sông, khiến 2 cánh quân kị binh của Trình Bằng Phi và Đạt Truật đi hộ tống Ô Mã Nhi phải quay lại hội quân với đạo quân của Thoát Hoan. Quân ta liên tục đánh để vừa kìm giữ địch, vừa buộc đạo thủy quân của Ô Mã Nhi phải rút lui đúng vào nơi ta đã lựa chọn, chuẩn bị và đúng vào thời điểm có lợi nhất cho ta. Lợi dụng sự thiên hiểm của địa hình và do nắm được qui luật của thủy triều vùng Bạch Đằng, Trần Quốc Tuấn cho chặt và cắm cọc nhọn xuống các cửa sông Chanh, sông Kênh và sông Rút, đồng thời bố trí các toán thủy binh và bộ binh của ta đầy đủ khí giới trên những chiến thuyền nhỏ, trên thuyền chứa sẵn chất gây cháy, bí mật mai phục 2 bên bờ sông. Dùng một bộ phận thủy binh và tận dụng sự nhô ra của ghềnh Thác để tổ chức thành một chốt “chặn đầu”.
Đúng như tính toán tài tình của Trần Quốc Tuấn, sáng 9-4-1288, các chiến thuyền của giặc “tiến” vào sông Bạch Đằng. Các chiến thuyền của ta ra khiêu khích và giả thua, bỏ chạy, địch hăng hái đuổi theo. Khi các chiến thuyền của địch rơi vào trận địa mai phục, quân ta bất ngờ tiến công từ 4 phía: chặn đầu, khóa đuôi, từ 2 sườn áp sát và xé lẻ đội hình địch ra thành nhiều mảnh để tiêu diệt. Bị đánh bất ngờ và mãnh liệt, biết không cầm cự được, chúng hốt hoảng lao thuyền ra các cửa các sông Chanh, Rút và Kênh để tháo chạy. Nhưng lúc này thủy triều đã xuống, các bãi cọc nhô lên. Thuyền địch chiếc thì bị cọc đâm thủng, số khác lao xô vào nhau vỡ, gây ra cảnh hoảng loạn chưa từng có. Các thuyền bè của quân ta chứa chất đầy chất cháy và chất nổ, xuôi theo dòng nước liên tiếp lao vào đội hình tàu thuyền địch đang bị ùn tắc. Trận phục kích đường thủy và trận hỏa công đại tài của quân ta đã khiến 400 chiến thuyền lớn bị đánh đắm hoặc đốt cháy, gần 5 vạn binh sĩ của địch bị tiêu diệt hoàn toàn, Phàn Tiếp và Ô Mã Nhi cùng nhiều tướng giặc bị bắt sống. Trận quyết chiến chiến lược được kết thúc hoàn hảo, chấm dứt mộng xâm lăng của đế chế Mông Cổ đối với Đại Việt.
Chiến thắng Bạch Đằng là chiến công bất hủ của quân và dân Đại Việt. Chiến thắng này gắn liền với tên tuổi của Quốc Công Tiết chế Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn. Chiến thắng này để lại cho chúng ta một số bài học sau:
Thứ nhất, để kết thúc chiến tranh thường phải tổ chức và tiến hành thắng lợi trận quyết chiến chiến lược.
Thứ hai, muốn tiến hành thắng lợi trận quyết chiến chiến lược cần phải trải qua các giai đoạn của cuộc chiến tranh để tạo thế, lực và thời cơ. Phải chọn đúng đối tượng tác chiến chủ yếu. Chọn khu vực quyết chiến điểm hợp lý và tạo, lập thế trận hiểm hóc, biết tận dụng và cải tạo thiên nhiên phục vụ cho ý đồ của trận đánh, tức là phải căn cứ vào thế hình để lập thế quân. Phải có công tác chuẩn bị chu đáo, tỉ mỉ, tính đến mọi khả năng để có phương án khắc phục.
Thứ ba, trận quyết chiến chiến lược là trận đánh lớn, là một trận tổng hội chiến. Để có được thắng lợi cuối cùng, phải có sự kết hợp nhuần nhuyễn 2 loại hình chiến tranh: chiến tranh du kích và chiến tranh chính qui. Trận đánh lớn luôn đòi hỏi có sự phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giữa các hướng, các lực lượng, các bộ phận theo một kế hoạch chung vì vậy bộ đội cần được huấn luyện chu đáo đầy đủ theo hướng đó, ngay từ thời bình.
Thứ tư, sông nước (biển) là một trong những yếu tố của môi trường tác chiến cả trong lịch sử và trong tương lai. Vì vậy nghiên cứu những kinh nghiệm tác chiến trên sông, biển không chỉ để tự hào với truyền thống vẻ vang của dân tộc ta, mà còn để vận dụng trong bảo vệ biển đảo của Tổ quốc ta trong những điều kiện mới.
TS Tống Văn Bính

Thứ Năm, 14 tháng 4, 2011

Mô hình hiện đại hóa trang bị vũ khí quân đội các nước nhỏ


VIT - Giới thiệu một mô hình hiện đại hóa trang bị vũ khí quân đội các nước nhỏ, rút ra từ chiến dịch quân sự chống Libya gần đây và từ các cuộc chiến tranh chống lại Nam Tư, Iraq trước đây. Mô hình hiện đại hóa trang bị vũ khí quân đội các nước nhỏ


Lực lượng vũ trang của các nước nhỏ cần phải rút ra bài học từ chiến dịch quân sự chống Libya gần đây và từ các cuộc chiến tranh chống lại Nam Tư, Iraq trước đây. Bài học đó là: lực lượng vũ trang của các nước nhỏ cần phải hiện đại hóa để có đủ khả năng đáp ứng với các mối đe dọa trong điều kiện "thế giới đa cực" hiện nay. Trọng tâm của việc hiện đại hóa này là phải nâng cao sức mạnh chiến đấu của hai lực lượng - Phòng không và Không quân.

Hai lực lượng đặc biệt quan trọng trên đây cần phải được trang bị các loại vũ khí hiện đại dựa trên công nghệ cao. Lực lượng Phòng không và lực lượng Không quân phải là một Lực lượng thống nhất (là một Quân chủng giống như tổ chức quân đội của Nga). Lực lượng Phòng không cần phải có các hệ thống tên lửa phòng không tầm xa S-300PS và S-300 PMU-1 (4 đến 6 tiểu đoàn); và để bảo vệ các hệ thống này cần có thêm hệ thống tên lửa phòng không tầm gần “Tor-M1V” và hệ thống pháo-tên lửa phòng không “Pantsir-S1”. Để bảo vệ các khu vực quân sự và công nghiệp quan trọng Lực lượng Không quân cần phải có các loại máy bay chiến đấu đa chức năng thế hệ 4 ++ (theo tỷ lệ: 20 máy bay MIG-35, 30 máy bay MIG-29SMT và 50 máy bay SU-27SM). Ngoài ra, để nâng cao khả năng tác chiến thực hiện các nhiệm vụ đặc biệt cần có khoảng (20-30) máy bay trực thăng hiện đại Ka-52 hoặc MI-28N.


Để tối ưu hóa hoạt động tác chiến của hai lực lượng Phòng không và Không quân cần phải có ít nhất 2 máy bay AWACS A-50U và Binh chủng rađar phải được trang bị (3-4) đài radar AWACS “Protivnhik-G”. Máy bay AWACS A-50U và đài radar AWACS “Protivnhik-G” thực hiện nhiệm vụ cảnh báo các cuộc tấn công tên lửa của đối phương, phát hiện mục tiêu ở cự ly 340 km và ở độ cao 120 km. Trong trường hợp quốc gia có ngân sách quân sự không đủ lớn thì có thể trang bị cho Lực lượng Không quân như sau: 50 máy bay MIG-29K thế hệ 4 ++ và 70 máy bay MIG-23-98-2 đã được cải tiến nâng cấp lên mức thế hệ 4+. Bằng cách này cho phép giảm đáng kể ngân sách trang bị cho Lực lượng Không quân. Máy bay MIG-23-98-2 - phiên bản được cải tiến hoàn thiện nhất của loại máy bay đa chức năng MIG-23ML - về tính năng kỹ thuật tương đương với máy bay thế hệ 4+. Máy bay MIG-23-98-2 được trang bị các loại tên lửa hiện đại R-27ER, RVV-AE, và vũ khí chính xác cao để tiêu diệt các mục tiêu trên đất liền và trên biển ngay cả trong trường hợp có nhiễu điện tử.

Không cần thiết phải trang bị hàng trăm xe tăng hiện đại đắt tiền cho Lực lượng lục quân. Phương án tốt hơn là cải tiến nâng cấp vũ khí hiện có, và trang bị thêm khoảng (20-30) Hệ thống tên lửa chống tăng “Hermes” (với số lượng 720 tên lửa chống tăng có các cự ly sát thương 15, 40 và 100 km). Đối với lực lượng bộ binh cơ giới cần trang bị 200 xe bọc thép BMP-3, 100 xe bọc thép hạng nặng BTR-4, 1000 tên lửa chống tăng “Kornet-E”, và (10-15) máy bay không người lái loại rẻ Tu-300 “Korsun” và “Inspektor-301”.

Lực lượng Hải quân của nước nhỏ có thể trang bị 4 tàu ngầm diesel thiết kế 677 “Lada”, 10 tàu tên lửa cao tốc “Molnhia” có hệ thống pháo-tên lửa phòng không “Kortik” (thay cho hệ thống pháo phòng không AK-630M cũ trước đây), và hai tàu khu trục “Shichzyachzhuan” thiết kế 051S của Trung quốc. Với thành phần tinh gọn này Lực lượng Hải quân có khả năng làm nguội lạnh tham vọng của cả một đối phương mạnh. Để bảo vệ bờ biển cần trang bị thêm cho Lực lượng Hải quân Hệ thống tên lửa Bastion “Bờ đối Biển” và Pháo bờ biển “Bereg” (số lượng tùy thuộc vào độ dài bờ biển).

Hiện nay, Algeria là nước có quan điểm xây dựng lực lượng vũ trang gần giống nhất với quan điểm trình bày trên đây. Cùng với nhận thức quy luật của các cuộc xung đột quân sự mới diễn ra gần đây, Lãnh đạo các nước nhỏ cần phải suy nghĩ về việc hiện đại hóa lực lượng vũ trang, để một ngày nào đó không bị hàng trăm quả tên lửa “Tomogav” bắn vào các mục tiêu quân sự và cơ sở hạ tầng dân sự của đất nước.

Tri Tam (theo http://topwar.ru)Tin dịch

Thứ Tư, 6 tháng 4, 2011

Công nghệ tàu ngầm Kilo 636 của Việt Nam "đỉnh" hơn Kilo 636 của Trung Quốc?

Tạp chí Bình luận Quân sự Hán Hòa số tháng 4 dẫn nguồn tin là một chuyên gia công nghệ quân sự uy tín ở Mátxcơva (Nga) cho biết theo hiệp định song phương đã kí kết giữa Nga và Việt Nam, năm 2013, Việt Nam sẽ nhận được chiếc tàu ngầm Kilo đầu tiên, một năm sau là chiếc thứ hai và chiếc cuối cùng sẽ được bàn giao vào năm 2017. So với tàu ngầm Kilo 636 MK mà hải quân Trung Quốc sử dụng, tàu ngầm Kilo 636 MV mà Nga bán cho Việt Nam có nhiều điểm khác biệt, trong đó lớn nhất là về vũ khí trang bị.

Trước tiên, tàu ngầm Kilo của Việt Nam sẽ được lắp đặt tên lửa hành trình tấn công đối đất 3M-14E loại mới nhất, có tầm bắn 290 km. Loại tên lửa này không được Bộ Quốc phòng Nga phê chuẩn xuất khẩu cho Trung Quốc. Ngoài Việt Nam, hai nước khác được Nga xuất khẩu tên lửa 3M-14E là Ấn Độ và Angiêria.
Bên cạnh đó, tàu ngầm Kilo 636 MV còn được trang bị ra đa dẫn đường phức hợp đa tác dụng GE2-01 loại mới nhất. Loại ra đa này không được xuất khẩu cho Trung Quốc, có ưu điểm lớn nhất là giảm tối đa tạp âm trong môi trường nước và giúp đa dạng hóa biện pháp dẫn đường.
Về hệ thống sonar, tàu ngầm Kilo 636 MK của Trung Quốc chỉ được trang bị hệ thống sonar MGK 400E loại cơ bản. Trong khi đó, tàu ngầm Kilo 636 MV lại được lắp đặt hệ thống sonar MGK 400E loại cải tiến. Hai hệ thống sonar này có cùng cự ly thám trắc, nhưng hệ thống sonar MGK 400E loại cải tiến được trang bị bộ xử lý tín hiệu tốc độ cao nhiều công năng và có mức độ số hóa cao hơn.
Về kính tiềm vọng, tuy tàu ngầm Kilo 636 MK và tàu ngầm Kilo 636 MV đều được trang bị hệ thống thám trắc quang học, nhưng kính tiềm vọng sử dụng cho nhiệm vụ tấn công của tàu ngầm Kilo 636 MV được lắp đạt thêm thiết bị đo cự ly bằng tia la de và hệ thống quan trắc TV, IR. Trong khi đó, tàu ngầm Kilo 636 MK chủ yếu sử dụng quang học ngắm bắn và không có thiết bị đo cự ly bằng tia la de. Điều đó có nghĩa năng lực tác chiến ban đêm và độ chính xác của đòn đánh của tàu ngầm Kilo 636 MV sẽ cao hơn tàu ngầm Kilo 636 MK.
Điểm khác biệt cuối cùng là hệ thống điều hòa mà tàu ngầm Kilo 636 MV sử dụng thích hợp hơn với khí hậu, địa hình nhiệt đới.
Bên cạnh những điểm khác biệt, tàu ngầm Kilo mà Nga bán cho Trung Quốc và tàu ngầm Kilo mà Nga xuất khẩu cho Việt Nam có một số điểm giống nhau như cùng được trang bị tên lửa chống hạm 3M-54E, cùng sử dụng ắc quy 476 E loại cải tiến, tuổi thọ dài, đáp ứng được yêu cầu về nhiệt độ nước ở Thái Bình Dương.
Nguồn tin cho rằng thời gian sản xuất của hai loại tàu ngầm trên cách nhau hơn 5 năm, nên công nghệ trang bị cho tàu ngầm Kilo 636 MV tiên tiến hơn tàu ngầm Kilo 636 MK là điều đương nhiên. Xem xét những khác biệt nêu trên, theo tờ tạp chí, dù đều là tàu ngầm Kilo 636 M, nhưng khoảng cách về công nghệ giữa tàu ngầm Kilo 636 MV và tàu ngầm Kilo 636 MK chí ít là trên 10 năm.
Về 6 chiếc tàu ngầm Kilo mà Nga bán cho Việt Nam, từ lâu có thông tin cho rằng Việt Nam có thể sử dụng chúng để xây dựng hai hạm đội. Tuy nhiên, theo nguồn tin, 6 chiếc tàu ngầm Kilo 636 MV của Việt Nam sẽ được bố trí thống nhất, tạo thành một hạm đội và phía Nga sẽ phụ trách việc xây dựng tất cả các kho cất trữ tên lửa ở cảng biển và trạm cung cấp dưỡng khí như một phần trong nội dung hiệp định song phương đã kí kết với Việt Nam.
Liên quan đến giá mua tàu ngầm Kilo 636 MV, trước đây có thông tin cho rằng có thể hải quân Việt Nam đã phải mua tàu ngầm Kilo 636 MV với giá cao. Tuy nhiên theo nguồn tin, giá tàu ngầm Kilo 636 MV mà Nga bán cho Việt Nam hoàn toàn là giá thật và hiện nay phía Nga đã bắt tay vào chế tạo chiếc tàu ngầm Kilo 636 MV đầu tiên cho Việt Nam./.

Theo Tạp chí Bình luận Quân sự Hán Hòa

Đừng hoang tưởng về một thế giới phẳng

Tác giả: TS. ALAN PHAN (CHỦ TỊCH QUỸ ĐẦU TƯ VIASA)
Bài đã được xuất bản trên VietnamNet: 05/04/2011 05:00 GMT+7

Thế giới cũng sẽ KHÔNG phẳng sau sự lan tỏa toàn cầu của mạng lưới Internet. Thế giới sẽ vẫn là thế giới ta đã quen biết suốt 5,000 năm lịch sử: rất nhiều cách biệt giữa các tầng lớp xã hội: giàu và nghèo, học thức và vô học, đạo đức và bất lương, thôn quê và thành thị, quốc gia phát triển và quốc gia nghèo đói. Nhưng công nghệ thông tin lại có khả năng làm gia tăng sự cách biệt này:...

Các chính trị gia và các chuyên gia thường thích dùng các danh từ thời thượng để phô trương tri thức về thế giới và tạo ấn tượng trong cộng đồng. Gần đây, họ hay nói đến các ngôn từ như kinh tế sáng tạo, mạng xã hội, hội nhập toàn cầu, công nghệ xanh, kỹ thuật số, chỉ số hạnh phúc... Nhưng một chữ bị lạm dụng nhiều nhất có lẽ là "thế giới phẳng".

Danh từ này được Thomas Friedman dùng làm đề tài cho một tựa sách vào 2005 để diễn tả một hiện tượng mới về xã hội và kinh tế do cuộc cách mạng Internet và công nghệ thông tin (IT) mang lại. Giả thuyết của ông là sự lan tỏa cùng khắp những thông tin và kiến thức nhanh chóng qua Internet đã san bằng mọi cách biệt về lợi thế kinh tế giữa các quốc gia, giữa các thể chế chính trị, và giữa các tầng lớp nhân dân. Kết quả là một thế giới phẵng lì, không còn rào cản vả bất cứ ai cũng có thể nắm bắt những cơ hội mới do công nghệ mới tạo dựng.

Tôi đã theo dõi nhiều bài viết của Friedman trên New York Times, tờ báo của giới mệnh danh là "tiến bộ" (liberal) của các trí thức khoa bảng Mỹ. Ông này có tật xấu là đơn giản hóa mọi vấn đề, rồi dựa trên một vài sự kiện đặc thù mà đặt ra các giả thuyết khá phi lý, phù hợp với quan điểm cá nhân của mình. Ông luôn quên đi sự phức tạp của mọi vấn đề bàn luận, dù là xã hội, kinh tế hay chính trị, dù là địa phương hay toàn cầu. Thế giới phẳng và một xã hội đại đồng bình đẳng là một hoang tưởng rất thời thượng của ông.

Ảnh minh họa: saga
Vào khoảng 1885, Karl Benz sáng chế ra chiếc xe hơi hiện đại thay thế cho cỗ xe ngựa và cùng thời điểm, James Maxwell đưa ra lý thuyết để thế giới có được máy phát thanh (radio). Nếu ông sinh ra ở thời này, Friedman cũng sẽ dễ dàng đưa ra lập luận về một "thế giới phẳng" vì hai phát minh này cũng đã đem nhân loại đến gần nhau hơn. Thế nhưng, sau đó, ai cũng biết thế giới đã KHÔNG phẳng với những sáng chế diệu kỳ về xe hơi, về radio, về TV, về máy in... Tôi cũng xin báo cho các bạn trẻ là thế giới cũng sẽ KHÔNG phẳng sau sự lan tỏa toàn cầu của mạng lưới Internet.

Máy tính, Internet, điện thoại di động và các dụng cụ công nghệ thông tin quả đã tạo nên một cách mạng vĩ đại về kiến thức và thông tin với tốc độ, tầm cỡ và chức năng. Nhưng thế giới sẽ vẫn là thế giới ta đã quen biết suốt 5,000 năm lịch sử: rất nhiều cách biệt giữa các tầng lớp xã hội: giàu và nghèo, học thức và vô học, đạo đức và bất lương, thôn quê và thành thị, quốc gia phát triển và quốc gia nghèo đói. Thực sự, công nghệ thông tin lại có khả năng làm gia tăng sự cách biệt này: người biết sử dụng IT sẽ khôn khéo dùng lợi thế cạnh tranh này của mình để kiếm tiền, kiếm quyền và đặc lợi nhiều hơn so với đám đông còn bỡ ngỡ.

Sự yêu thích hình tượng và viễn ảnh của một thế giới phẳng có lẽ bắt nguồn từ sự ao ước của rất nhiều nhà trí thức trẻ (trong đó có người viết bài này) với một con tim tha thiết về một xã hội công bằng, không có khác biệt giữa giàu nghèo, giai cấp hay phân khúc. Một thế giới đại đồng của những người bình đẳng về mọi khả năng và quyền lợi. Cuộc thí nghiệm vĩ đại nhất lịch sử đã diễn ra ở Liên xô và Trung Quốc hơn 70 năm. Ngày nay, tại hai xã hội này, sự cách biệt về giàu nghèo (theo chỉ số Gini) thuộc loại cao nhất trong 10 hạng đầu của thế giới (Top Ten).

Rất nhiều văn nghệ sĩ, trí thức và các bậc khoa bảng luôn luôn ta thán về hiện tượng bất công của xã hội, thường kết luận trong vội vã "đời không công bằng chút nào" khi so sánh sự thua kém của mình với những nhân vật mà họ nghĩ là không xứng đáng. Chính tôi cũng hay rơi vào trường hợp tự ti này khi không để lý trí suy xét.

Vào thời điểm 1968 sau khi tốt nghiệp Đại học ở Mỹ, tôi và một người bạn người Mã Lai tên là Michael cùng quay trở về nước. Trong khi tôi chật vật với lương giảng viên ở Đại Học Bách Khoa Phú Thọ, Michael được ông bố, vốn là một đại gia tăm tiếng ở Mã Lai, mua cho một ngân hàng rồi bổ nhiệm hắn làm Chủ Tịch TGĐ một ngân hàng đứng hàng thứ 8 ở Mã Lai vào thời đó. Ngay cả suốt cuộc đời 2 đứa trong 42 năm qua, trong khi tôi phải lên voi xuống ngựa, đi từ đỉnh cao của thịnh vượng đến vực thẳm của nghèo khó, Michael vẫn ung dung tự tại sống đời thượng lưu, thành công từ việc làm ngân hàng đến tạo dựng một đế quốc về địa ốc. Sau này, mỗi lần qua chơi, tôi vẫn rất ghen tỵ, chép miệng, "đời thật bất công".

Một người bạn khác ở VN cùng tôi mài ghế suốt 4 năm trung học. Anh ta tên Duy và là thần tượng của tôi hồi đó. Học giỏi, đẹp trai, con nhà giàu, nhưng trên hết, có một hạnh kiểm hoàn toàn, luôn luôn được bầu là trưởng lớp bởi các học trò và thầy cô. Ai cũng ngưỡng mộ. Anh thường ái ngại nhìn tôi bỏ lớp trốn học, đi tán gái, chọc phá làng xóm, và nói nếu không thay đổi tính nết, tương lai của tôi sẽ chìm sâu trong đống bùn. Tôi luôn luôn đồng ý, nhưng đã không bỏ được những thói quen xấu. Xong Tú Tài, anh thi đậu vào Đại Học Sư Phạm dễ dàng và trở thành một bậc thầy khả kính sau những năm học hành. Còn tôi, may mắn được học bổng Mỹ, bay đi tận nữa vòng trái đất, loay hoay làm lại đời mình. Một lần về thăm nhà năm 1992, Viện Đại học Cần Thơ mời tôi giảng dạy một buổi về Kinh Tế Mở Cửa của TQ cho các học sinh cũng như nhiều vị giáo chức tu nghiệp. Tôi ngỡ ngàng gặp lại Duy, thay đổi thứ bậc trong liên hệ thầy-trò. Anh ngượng ngùng, bỏ ngang lớp học sau tiết đầu và không trả lời điện thoại khi tôi kêu. Bạn bè cho biết hôn nhân của anh trắc trở, anh buồn đời làm một con sâu rượu giải sầu, và bị cấp trên "đầy đọa" vì nhiều lần say rượu trong lớp học. Tôi chắc Duy cũng đang nghĩ thầm, "đời thật bất công".

Cách nay ba tháng, một đại gia trẻ tuyên bố trong một buổi hội thảo là tương lai IT của VN sáng ngời, vì chỉ sau 10 năm, dân số VN có điện thoại di động bây giờ đã lên đến hơn 53 triệu người. Anh ta đồng hóa việc sỡ hữu một cái phone với trình độ kiến thức và hiệu năng của nền kinh tế sáng tạo, biểu hiện qua một công cụ IT phổ thông. Tôi có 2 người giúp việc nhà. Họ đều sở hữu điện thoại riêng cho cá nhân và nhờ những chương trình khuyến mãi, nói chuyện qua phone đến 4, 5 giờ mỗi ngày. Họ trao đổi liên tục với bạn bè, láng giềng, gia đình dưới quê về mọi chuyện lặt vặt, còn hơn Twitter của các siêu sao ở Hollywood. Thậm chí họ còn dùng điện thoại để chửi nhau, để khuyến nghị về số đề, về mua hụi, về chương trình kịch trên TV. Thậm chí, một bà đã gần 50 tuổi, có chồng và 4 đứa con ở quê, vẫn trả lời tất cả những cú phone từ người lạ, đóng vai trò một cô gái mới 20, đóng góp và giải tỏa các lời yêu thương ảo (như một loại phone sex rẻ tiền) cho rất nhiều bạn trai Việt.

Những bất công hay hố cách biệt vừa kể cũng có thể là do sự lựa chọn và sở thích của cá nhân. Năm trăm năm trước, ngài Nguyễn Bỉnh Khiêm đã ca tụng chữ "nhàn" và lối sống điền viên, "Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ. Người khôn người đến chốn lao xao". Nếu ta bắt ông phải sống trong một Net café, cạnh Ngã Sáu Chợ Lớn, nhìn khói bụi, dòng xe và biển người qua lại, chắc ông phải khóc tủi thân mỗi ngày. Còn nếu ai buộc tôi phải xa rời các trung tâm tài chính thế giới như New York, Luân Đôn hay Hồng Kông... để về sống ở xứ Cà Mau với những cánh đồng bất tận của chị Nguyễn Ngọc Tư chắc tôi cũng hóa điên. Dù tôi biết chỗ đậu xe ở Cà Mau không thể tốn 40 dollars mỗi ngày như New York.

Trong chuỗi hội thảo về đầu tư cho các doanh nhân và sinh viên Việt Nam vào tháng 3 vừa qua, tôi nói nhiều về Zuckerberg của Facebook. Anh chàng sinh viên 24 tuổi này đã bắt đầu với một ý tưởng và 1 ngàn dollars của bạn cùng phòng; và chỉ trong 4 năm tạo nên một tài sản mà Goldman Sachs đánh giá là 60 tỷ dollars; tương đương với 60% GDP của Việt Nam. Trong số 80 triệu dân hiện tại, có người Việt nào sẽ đứng lên đáp lời sông núi để chứng minh là thế giới đã phẳng như Friedman nói; hay chúng ta sẽ lại có thêm vài khẩu hiệu rẻ tiền về sáng tạo?