Thứ Năm, 2 tháng 6, 2011

Chiến lược phòng thủ chủ động của Trung Quốc và tác động đối với khu vực (Phần 2)

Bài đã được xuất bản trên ITimes.vn

Những báo cáo tình báo gần đây cho biết Trung Quốc hiện sở hữu 3 tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo, 59 tàu ngầm tấn công thuộc nhiều lớn khác nhau, 48 tàu frigates, 26 tàu khu trục, 40 tàu tác chiến mìn, 1 tàu đổ bộ boong lớn, 57 tàu đổ bộ nhỏ hơn và sắp có một tàu sân bay cải tiến (Varyag) cùng với một tàu sân bay khác đang trong giai đoạn tự thiết kế.

Bài phát biểu của Hạ nghị sỹ Robert J. Wittman

Những chính sách và con số đáng lo ngại của Trung Quốc

Năm 2008 Cộng đồng tình báo Mỹ đã cảnh báo: “Xét về quy mô, tốc độ và hướng phát triển, sự thịnh vượng và sức mạnh kinh tế toàn cầu đang chuyển đổi mạnh mẽ từ Tây sang Đông và là xu hướng chưa có tiền lệ trong lịch sử hiện đại”. Nếu nhìn lại lịch sử, chúng ta nhận thấy rằng: Những năm 1700 là giai đoạn thống trị của nước Pháp, những năm 1800 đặt dưới sự thống trị của Anh, những năm 1900 là thời đại thống trị của Mỹ. Vậy câu hỏi đặt ra là: sự thống trị sẽ diễn ra ở đâu trong thế kỷ 21 này?

Chứng kiến những gì đang diễn ra trên thế giới, rõ ràng Trung Quốc đang ở top đầu danh sách.

Chúng ta đều biết rằng năm 2010 Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản trở thành nền kinh tế thứ hai thế giới chỉ sau Mỹ. Trung Quốc hiện là nước xuất khẩu lớn nhất thế giới mà Mỹ làm một trong những khách hàng lớn nhất của họ. Như vậy, mối lo ngại nằm ở đó.
Với tốc độ tăng trưởng như hiện nay, sức mạnh tài chính toàn cầu tại châu Á chắc chắn sẽ lớn hơn của Mỹ vào năm 2036, một số chuyên gia còn tin rằng nó sẽ lớn hơn ngay ở năm 2020. Đó là tốc độ đủ nhanh để bắt kịp và vượt qua Mỹ.

Các chính sách quân sự của Trung Quốc đều nhằm mục tiêu chuyển đổi nguồn lực kinh tế đang gia tăng thành một quân đội chiến đấu đẳng cấp thế giới và chúng ta đang xem xét rất cẩn trọng sự chuyển đổi này diễn ra như thế nào. Quan điểm cho rằng sự thịnh vượng đang tăng lên của Trung Quốc đồng nghĩa với việc họ sẽ hành động như một cường quốc quân sự như hiện nay không tìm được bất cứ sự ủng hộ nào trong chính phủ ở Bắc Kinh. Họ nhận thức rất rõ mình đang ở đâu với cương vị là một cường quốc nổi trội trên thế giới.

Quá trình hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc bắt đầu được đẩy mạnh từ giữa đến cuối những năm 1990 nhằm đáp ứng yêu cầu của các nhà lãnh đạo trung ương: phát triển các chiến dịch quân sự đủ khả năng đáp trả mối đe dọa từ Đài Loan. Tốc độ và quy mô phát triển quân sự của Trung Quốc đã làm cho cán cân quân sự khu vực bị đe dọa. Chúng ta đang chứng kiến những gì diễn ra mỗi ngày và hàng ngày ỏ khu vực Đông Á này.

Tuy nhiên, trong khi sự chuyển đổi quân sự của Trung Quốc đang diễn ra với một tốc độ nhanh hơn nhiều chuyên gia dự đoán thì cũng phải thấy rằng họ vẫn còn thiếu kinh nghiệm tác chiến hiện đại trực tiếp và ứng dụng cơ bản về phối hợp liên quân.

Các chiến dịch chống thâm nhập hiện nay của Trung Quốc tìm cách ngăn chặn các quốc gia bên ngoài khuyếch trương sức mạnh vào khu vực và ngăn không cho họ có đủ năng lực vượt trội để khuyếch trương sức mạnh. Trung Quốc nhận thấy cần phải xem xét vấn đề hợp nhất các liên minh và đối tác an ninh của Mỹ, giảm bớt an ninh và ảnh hưởng của Mỹ tại khu vực đồng thời làm gia tăng khả năng xung đột. Chúng ta nhận thấy đi cùng với khả năng đang gia tăng của Trung Quốc là hoạt động chống tàu thâm nhập mà Mỹ không thể đối phó đã tạo ra những mối quan ngại sâu sắc và khả năng chống thâm nhậm đó kéo dài ra 1.200 dặm ngoài đường bờ biển - một con số rất đáng lo ngại.

Báo cáo phân tích về mối đe dọa của Lầu năm góc gần đây cho biết các nhà lãnh đạo ở Bắc Kinh có một niềm tin chung, đó là: sự trỗi dậy của Trung Quốc là không thể dừng lại và nước Mỹ đang trên đà đi xuống.

Bước đầu tiên trong tiến trình trỗi dậy kéo dài nhiều thập kỷ đó đảm bảm cho Trung Quốc quyền kiểm soát các vùng biển phía Đông giáp với lãnh thổ của mình. Và rõ ràng khu vực Đông Á là nơi chúng ta nhận thấy sự hiện diện và các hoạt động của Trung Quốc diễn ra chủ động nhất.

Dẫn chứng một vài ví dụ gần đây để thấy được sức mạnh đang tăng của quân đội Trung Quốc:

- Năm 2007 Trung Quốc phá hủy một vệ tinh thời tiết đã hết hạn sử dụng đang hoạt động trên một quỹ đạo tương tự với quỹ đạo của các tàu vũ trụ chụp ảnh do thám của Mỹ.

- Gần đây hơn, Trung Quốc đã thử thành công tên lửa đạn đạo Đông Phong DF-21D đủ khả năng tấn công các tàu sân bay của Mỹ ở Tây Thái Bình Dương, một loại vũ khí khá “thú vị” , bay theo đường parabol, có thể quay trở lại trái đất, và khi phát hiện được mục tiêu, nó bay theo hình zigzag tấn công mục tiêu làm cho việc đối phó trở nên rất khó khăn.

- Các vụ bay thử nghiệm chiến đấu cơ tàng hình J-20 và cải tiến tàu sân bay của Liên Xô cũ (Varyag) là những phát triển đáng lo ngại, đó là chưa kể tới các sáng kiến gia tăng số lượng tàu chiến mặt nước, tàu ngầm, tên lửa hành trình chống tàu, các khả năng tác chiến điện tử và tấn công mạng máy tính, việc hiện đại hóa mạng lưới radar cảnh báo sớm cũng như hệ thống do thám và định vị mục tiêu trên biển.

Nhờ vị thế kinh tế toàn cầu, Trung Quốc ngày nay sở hữu và vận hành một nền công nghiệp đóng tàu hùng mạnh, cạnh tranh toàn cầu. Nước này hiện được xem là quốc gia đóng tàu lớn thứ hai thế giới, và do vậy theo nhiều cấp độ khác nhau trở thành mối lo ngại của Mỹ không chỉ ở khía cạnh quân sự mà còn cả lĩnh vực thương mại.

Việc mở rộng và hiện đại hóa các xưởng đóng tàu đã giúp tăng khả năng và năng lực đóng tàu của Trung Quốc, mang lại nhiều lợi ích cho tất cả các dự án quân sự thuộc nhiều chủng loại. Những báo cáo tình báo gần đây cho biết Trung Quốc hiện sở hữu 3 tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo, 59 tàu ngầm tấn công thuộc nhiều lớn khác nhau, 48 tàu frigates, 26 tàu khu trục, 40 tàu tác chiến mìn, 1 tàu đổ bộ boong lớn, 57 tàu đổ bộ nhỏ hơn, và sắp có một tàu sân bay cùng với một tàu sân bay khác đang trong giai đoạn tự thiết kế.

Nếu so sánh với con số 286 tàu chiến của Hải quân Mỹ hiện nay, (còn theo kế hoạch dự kiến sẽ là 313 chiếc), thì rõ ràng số lượng trên của Trung Quốc đang tạo ra nhiều lo ngại.

Lần đầu tiên, nếu nhìn vào tổng lực hải quân Trung Quốc, về số lượng, họ tiến nhanh hơn Mỹ. Hiên tại chúng ta có thể biện hộ rằng, chất lượng hạm đội của Mỹ tốt hơn Trung Quốc nhưng xét theo một vài khía cạnh nào đó thì số lượng sẽ vượt qua chất lượng. Khi Trung Quốc trở thành nước lãnh đạo nền kinh tế toàn cầu, chúng ta biết rằng con số này sẽ tiếp tục gia tăng. Người Trung Quốc rất quyết liệt bám theo định hướng đó.

Đối sách của Mỹ?

Mối lo ngại của tôi là liệu chúng ta có đang đầu tư nguồn lực cần thiết vào hệ thống vũ khí của mình để đối phó hoặc đáp trả mối đe dọa đang nổi nên này? Vấn đề nằm ở chỗ, các quyết định chiến lược và ngân sách được thực hiện như thế nào ở Lầu năm góc? Liệu nhu cầu chiến lược thúc đẩy ngân sách hay ngân sách đang chèo lái các nhu cầu chiến lược? …

Để đối phó với mối đe dọa chống thâm nhập đang nổi nên tại châu Á, Mỹ cần tập trung vào việc bố trí lực lượng, tiếp tục duy trì các liên minh trong khu vực, duy trì sự có mặt hiện tại ở các căn cứ nằm ở những vị trí chiến lược tại Tây Thái Bình Dương.
Năm 2010, Báo cáo đánh giá quốc phòng 4 năm 1 lần đã chỉ trích Trung Quốc thiếu tính minh bạch trong các kế hoạch phát triển quân sự và các tiến trình đưa ra quyết định của họ. Tiếp tục trao đổi liên quân sự là cần thiết để giảm bớt những hiểu lầm và không tin tưởng lẫn nhau.

Chúng ta phải hành động nhiều hơn nữa để đảm bảo có sự minh bạch trong mối quan hệ này và chúng ta muốn sự minh bạch đó được đẩy mạnh. Đó là cách duy nhất để tránh hiểu lầm và tránh xảy ra điều gì đó tạo sự hiểu lầm và không tin tưởng có thể dẫn tới xung đột tiền tàng trong tương lai.

Chúng ta biết rằng chính phủ Trung Quốc đang đầu tư quyết liệt cho tương lai của chính họ và chắc chắn họ sẽ tiếp tục hành động như vậy. Nước Mỹ phải xem xét kỹ cơ cấu lực lượng của chính mình, phải đầu tư các nguồn lực cần thiết trong các lĩnh vực như đóng tàu, phải xem xét nghiêm túc cách thức chuyển đổi ưu tiên trong ngân sách quốc phòng sẽ ảnh hưởng tới khả năng của mình như thế nào trong việc đối phó với mối đe dọa tại Thái Bình Dương. Hơn nữa chúng ta biết Trung Quốc không phải là một mối đe dọa duy nhất mà Mỹ phải đối phó ở Thái Bình Dương.


Anh Minh (Theo USCC)

Chiến lược phòng thủ chủ động của Trung Quốc và tác động đối với khu vực (Phần 1)

Bài đã được xuất bản trên ITimes.vn

Trước sự trỗi dậy ngày càng mạnh mẽ của quân đội Trung Quốc, đặc biệt là sức mạnh hải quân, khả năng tác chiến mạng và thực thi các chiến dịch trong không gian, tháng Một năm 2011 Ủy ban Đánh giá Kinh tế và An ninh Mỹ - Trung (USCC) đã tổ chức phiên họp điều trần với chủ đề "Chiến lược phòng thủ chủ động của Trung Quốc và tác động đối với khu vực", trong đó các chuyên gia đã phản ánh tương đối tổng quan xu thế phát triển chiến lược quốc phòng của Trung Quốc thời gian tới. iTimes xin trân trọng giới thiệu tới độc giả.
Bài phát biểu của Carolyn Bartholomew, Ủy viên USCC


Carolyn Bartholomew


Ngay trước chuyến thăm của Bộ trưởng quốc phòng Robert Gates tới Bắc Kinh, Đô đốc Willard – Chỉ huy các lực lượng Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương đã cảnh báo Trung Quốc sẽ triển khai một tên lửa đạn đạo chống tàu có khả năng bắn trúng các tàu sân bay của Mỹ nằm cách bờ biển Trung Quốc hàng nghìn dặm. Chỉ vài ngày sau đó, khi Bộ trưởng Gates đang tham dự các cuộc hội đàm tại Bắc Kinh, Trung Quốc cho bay thử nghiệm chiến đầu cơ tàng hình đầu tiên cùng với việc để thông tin về chuyến bay “rò rỉ” trên Internet.


Các sự viện đó, cùng với những diễn biến mới liên quan trong thời gian gần đây, dường như là biểu hiện của một nỗ lực phát triển các khả năng nhằm trực tiếp đối phó với quân đội Mỹ. Ở Mỹ, thường được đề cập với tên gọi “Chống thâm nhập”, chiến lược này đang được vận hành ở tất cả các không gian tác chiến: trên bộ, trên biển,trên không, trong vũ trụ và trong không gian mạng.


Tàu hải quân Trung Quốc

Điều quan trọng hơn là PLA đang cố gắng tích hợp và đồng bộ hóa các khả năng của mình ở các không gian này nhằm đạt hiệu quả một cách tối đa các khả năng tương đương với cách quân đội Mỹ thực hiện các chiến dịch liên quân phối hợp. PLA không chỉ đơn giản phát triển và tích hợp các khả năng quân sự truyền thống mà họ còn đang thử nghiệm các phương thức khác mang tính truyền thống ít hơn nhưng lại rất hiệu quả. Các cuộc tấn công không gian mạng và các chiến dịch phản vũ trụ đang đóng vai trò như những chiến dịch bổ trợ sức mạnh cho các khả năng chống thâm nhậm đang được tăng cường của PLA.


Các chiến dịch quân sự của Mỹ tại Tây Thái Bình Dương phụ thuộc rất lớn vào nguồn thông tin chuyển tải qua các hệ thống đặt trên không, trong vũ trụ hay đất liền. Bình luận về những phát triển của Trung Quốc trong tác chiến mạng và tác chiến chống vệ tinh, Bộ trưởng Gates lo ngại: “những tiến bộ này bộc lộ thách thức tiềm tàng cho khả năng hoạt động và truyền thông của quân đội Mỹ ở Tây Thái Bình Dương”.


Các khả năng chống thâm nhập đang lớn mạnh của Trung Quốc không chỉ bộc lộ những vấn đề tiềm tàng cho Mỹ mà còn cho các quốc gia trong khu vực, trong đó nhiều nước là bạn bè, đồng minh lâu dài của Mỹ cũng bị ảnh hưởng. Theo nhiều cách khác nhau, chiến lược chống thâm nhập của Trung Quốc có thể được hiểu chính xác hơn là chiến lược kiểm soát khu vực. Các quốc gia trong khu vực không phải không hiểu được sự khác biệt này. Những tháng gần đây, nhằm giám sát và phản ứng tốt hơn trước những phát triển quân sự của Trung Quốc, Nhật Bản đã tuyên bố tái sắp xếp lại lực lượng, đặc biệt là xung quanh các đảo cực Nam của nước này. Tại Đông Nam Á, cuộc chạy đua vũ trang trên biển đang diễn ra phần lớn bị thúc đẩy bởi các khả năng đang gia tăng của Trung Quốc.


Bài phát biểu của Larry Wortzel, Ủy viên USCC



Đối với Mỹ, đảm bảo tự do hàng hải trên toàn thế giới đã là một ưu tiên ngay từ thời lập quốc. “Chiến lược hợp tác vì sức mạnh trên biển trong thế kỷ 21” của Lực lượng bảo vệ bờ biển Mỹ viết rằng: “Các tuyến đường trên biển và hạ tầng hỗ trợ trên đất liền là những dòng chảy của kinh tế toàn cầu”. Bởi vậy bảo đảm tự do lưu thông ở các tuyến đường biển và đường không toàn cầu có tầm quan trọng thiết yếu đối với Mỹ và thế giới.


Những hàng động và phát ngôn gần đây của Trung Quốc về tự do hàng hải trong khu vực, bao gồm cả tuyên bố về những hàng động được phép ở vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) là không phù hợp với các quy định quốc tế đã được thiết lập. Cách hiểu riêng đó của Trung Quốc về Luật biển đang được tăng cường bởi việc sử dụng các lực lượng an ninh trên biển ngày càng tăng của họ.


Những tuyên bố về chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông và Biển Hoa Đông mà Trung Quốc liên tục đưa ra trong thời gian gần đây xung đột với những tuyên bố của các quốc gia láng giềng trong khu vực. Cách tiếp cận quả quyết này của Trung Quốc đã dẫn tới va chạm với các nước láng giềng, trong đó có Nhật Bản - đồng minh thân cận của Mỹ.


Vụ va chạm giữa tàu do thám của Mỹ Impeccable với nhiều tàu Trung Quốc năm 2009 và một vụ tương tự với tàu USNS Bowditch ở Biển Đông đã chứng minh cho quan điểm hiếu chiến hơn của Trung Quốc. Chiến lược quân sự phòng thủ chủ động của Trung Quốc có những nhân tố kết hợp các chiến dịch phòng thủ truyền thống với hành động tấn công, điều này đã được các chuyên gia quân sự của chính Trung Quốc thừa nhận.


PLA tuyên bố rằng để bảo vệ Trung Quốc họ phải có đủ khả năng giành quyền kiểm soát tất cả các không gian tác chiến. Theo quan điểm của các chuyên gia quân sự Trung Quốc, chỉ bằng cách hành động nhanh chóng và quyết định ngay ở những giai đoạn đầu của cuộc xung đột họ mới có thể hy vọng giành chiến thắng trong cuộc chiến tranh hiện đại, đặc biệt nếu cuộc chiến đó liên quan đến Mỹ.


Hơn nữa, trong phạm vi mà chiến lược phòng thủ chủ động của Trung Quốc cho phép thực hiện các đòn tấn công phủ đầu, dễ nhận thấy rằng Mỹ có thể phải đối diện với một cuộc tấn công của PLA trong một cuộc xung đột không có sự cảnh báo, cảnh báo chút ít hoặc chẳng cần cảnh báo.


Chuỗi đảo thứ nhất và chuỗi đảo thứ hai

Chiến lược phòng thủ chủ động của Trung Quốc mang một hàm ý địa lý. Trong trường hợp xảy ra xung đột, PLA sẽ tìm cách giành quyền kiểm soát khu vực biển rộng lớn trong phạm vi mà Trung Quốc gọi là “Chuỗi đảo thứ nhất” bao gồm một loạt các hòn đảo kéo dài từ Nhật Bản qua Đài Loan và Philipin tới Indonesia.


Mục tiêu kiểm soát khu vực đang được mở rộng. Trong những năm gần đây, các tài liệu lý luận của quân đội Trung Quốc dường như hậu thuẫn việc mở rộng khu vực hoạt động ở phía Đông Đài Loan và Nhật Bản sang "Chuỗi đảo thứ hai", trên 1.800 dặm ra Thái Bình Dương tính tại điểm rộng nhất. Khả năng thực hiện các hoạt động ngày càng phát triển và học thuyết của PLA về việc sử dụng tên lửa nghĩa là Mỹ phải lo ngại về các chiến dịch tấn công nhằm vào tất cả các căn cứ của Mỹ và tuyến đường hậu cần phía tây Hawaii gồm cả đảo Guam.

Ai đang làm nổi sóng ở biển Đông?

Tác giả: TÔ VĂN TRƯỜNG
Bài đã được xuất bản trên VietnamNet


Một câu hỏi được đặt ra vì sao Trung Quốc lại hành xử bất chấp luật pháp quốc tế và giải pháp nào cho Việt Nam trước mắt cũng như lâu dài về bài toán biển Đông để Thái Bình Dương thực sự là thái bình?

Bão gió ở Thái Bình Dương là nhiều nhất, dữ dội nhất so với các đại dương khác. Từ xưa, các cuộc chiến tranh, xung đột vũ trang ở Thái Bình Dương cũng nhiều và ác liệt nhất. Biển Đông, một phần của Thái Bình Dương cũng chẳng mấy khi "sóng yên, biển lặng". Và nay thì sóng gió biển Đông có vẻ tăng về cường độ và tần suất bởi những tranh chấp về chủ quyền, mà điển hình là tranh chấp do Trung Quốc chủ ý phát động.

Trong những ngày vừa qua, trên các phương tiện thông tin đại chúng trong và ngoài nước tràn ngập các bình luận về việc Trung Quốc đưa 3 tầu chiến dưới danh nghĩa tàu hải giám xâm nhập vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Ngang ngược hơn cả là 3 tàu hải giám này ngang nhiên cắt cáp thăm dò địa chấn của tàu Bình Minh 02 của PetroViệt Nam, hoành hành suốt hơn 3 tiếng đồng hồ trên lãnh thổ của một nước láng giềng có chủ quyền, quan hệ hữu hảo!

Một câu hỏi được đặt ra vì sao Trung Quốc lại hành xử bất chấp luật pháp quốc tế và giải pháp nào cho Việt Nam trước mắt cũng như lâu dài về bài toán biển Đông để Thái Bình Dương thực sự là thái bình?

Mâu thuẫn giữa lời nói và việc làm

Nhìn lại lịch sử quan hệ giữa 2 nước Việt Nam-Trung Quốc, người dân nhận thấy những lời nói và việc làm của phía Trung Quốc là rất mâu thuẫn. Cấp cao của Trung Quốc luôn có cử chỉ và thái độ lịch thiệp, nhã nhặn, rất hữu nghị với cấp cao của các nước liên quan, đặc biệt đối với Việt Nam luôn nhắc đến như thuộc lòng phương châm " 16 chữ " và "tinh thần 4 tốt". Còn cấp thấp của Trung Quốc thì hành xử nhiều khi quá khích, thô thiển, manh động bất chấp hậu quả, chẳng đếm xỉa gì đến tình cảm láng giềng hữu nghị. Có không ít những phát biểu trên các phương tiện thông tin đại chúng ở Trung Quốc với nội dung bịa đặt, xuyên tạc, thiếu thiện chí, mang tư tưởng sô vanh nước lớn nhằm vào các nước liên quan, nhất là Việt Nam. Có phát biểu thậm chí xúc phạm đến danh dự dân tộc Việt Nam, xúc phạm đến tình hữu nghị giữa 2 nước và gây thù hằn dân tộc.


Cáp tàu Bình Minh 02 bị tàu Trung Quốc phá hoại.
Chúng ta không bao giờ quên sự giúp đỡ to lớn của nhân dân Trung Quốc đối với nhân dân Việt Nam trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước. Chúng tôi thuộc thế hệ U 60-U70 vẫn khắc sâu trong tâm khảm tấm áp phích thời chống Mỹ đăng trên Nhân Dân Nhật Báo với lời cảnh cáo đanh thép :"Mỹ xâm phạm Việt Nam là xâm phạm Trung Quốc"!

Nhưng chúng ta cũng không quên và có quyền tự hào rằng sau hơn 1000 năm bị các triều đại phong kiến Trung Hoa đô hộ, dân tộc ta vẫn giữ được tiếng nói, vẫn tồn tại và vươn lên mạnh mẽ để đủ sức lần lượt đánh đuổi các đạo quân hùng mạnh đến từ phương Bắc. Cũng không ai có thể quên rằng xương máu của hàng triệu người dân Việt Nam đổ xuống không chỉ cho nền tự do, độc lập của Việt Nam mà còn góp phần cho cách mạng Trung Quốc, cho một Trung Quốc được như ngày nay!

Chúng ta tin rằng tư tưởng bành trướng, tham vọng lãnh thổ chỉ có ở một bộ phận nhỏ trong cộng đồng hơn 1,3 tỷ người Trung Quốc. Bởi vì chính dân tộc Trung Hoa, đại bộ phận các thế hệ người Trung Quốc đã từng là nạn nhân của tham vọng bành trướng của các thế lực nước ngoài mà trước hết là nạn nhân thường xuyên của chủ nghĩa Đại Hán.

Thế trận ở Biển Đông

Đòi hỏi của Trung Quốc về đường chữ U và biến nó thành một đòi hỏi chính thức bằng cách nộp yêu sách đến Liên hợp quốc là mối đe dọa cho hoà bình khu vực và hòa bình thế giới. Đây là đòi hỏi không dựa trên luật pháp quốc tế cho nên dự luận thế giới rất lo ngại về đòi hỏi phi lý này.

Không chỉ đòi hỏi một cách chính thức, Trung Quốc đang dùng vũ lực một cách giới hạn nhằm ngăn chặn các nước như Việt Nam và Phillipines thăm dò địa chất và đánh bắt thủy sản ở vùng đặc quyền kinh tế theo Luật Biển nhưng có chồng lấn với đường chữ U. Trung Quốc cũng ngang ngược chưa định rõ đường chữ U theo tọa độ nhất định mà chỉ nói về nó một cách mơ hồ.


Ca nô tuần tra biển của Việt Nam.
Theo binh pháp Tôn Tử, khi quân ta bằng quân địch thì chỉ nên "hòa hoãn" và "nghi binh", khi quân ta gấp đôi quân địch thì nên "bao vây" và "cô lập" đối phương, khi quân ta gấp mười lần quân địch thì mới "tấn công" chiếm thành đối phương. Thế trận ở "biển Đông", có lẽ, người Trung Quốc đang chuyển từ trạng thái "hòa hoãn" và "nghi binh" sang "bao vây" và "cô lập" đối với Việt Nam. Hành động khiêu khích ngày càng gia tăng có hệ thống và chiến lược như việc cắt dây cáp thăm dò dầu khí của Petro Việt Nam cách bờ biển Phú Yên 120 hải lý có thể xem là một thế trận bao vây đầy thử thách với khả năng đáp trả về ngoại giao và quân sự của Việt Nam. Cần có nghiên cứu sâu ở cấp chiến lược an ninh quốc gia để có nhận định thật chính xác tình hình của thế trận hiện nay.

Thương lượng: Trung Quốc muốn thương lượng song phương giữa Trung Quốc với từng nước có liên quan. Né tránh giải quyết đa phương, chỉ tìm cách giải quyết song phương để "bẻ từng cái đũa, dễ hơn bẻ cả bó đũa". Đồng thời Trung Quốc liên tục hành động ngang ngược, xâm phạm chủ quyền nước khác, gây thiệt hại cho tàu bè và công dân của nước khác. Nước ta và nhiều nước khác ở Đông Nam Á muốn thương lương đa phương. Đa phương đến đâu, với những ai, quốc tế hóa trong chừng mực và phạm vi nào, đó là những điểm phức tạp, cần cân nhắc thận trọng và nhiều khôn khéo.

Gây sự: Trung Quốc luôn tìm cách gây sự theo kiểu leo thang, thăm dò thái độ của các cường quốc khác, nhất là Mỹ, nếu thấy ổn thì leo thang tiếp.

Vũ lực : Trung Quốc đã từng dùng vũ lực để thực hiện ý đồ của mình, và sẵn sàng dùng vũ lực như thế, mạnh hơn, rộng hơn, với nhận định rằng họ có thể làm chớp nhoáng, đạt mục đích, tạo "chuyện đã rồi", trước khi bất cứ nước nào, kể cả Mỹ, có thể phản ứng gì. Chuẩn bị ứng phó với hành động vũ lực này là rất cần thiết và rất không dễ dàng.

Việt Nam cần phải làm gì? Làm như thế nào?

Đối sách của chúng ta cần ghi nhớ lời Hồ Chủ Tịch đã dạy: "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" trên tinh thần chủ động, sẵn sàng cho mọi tình huống. Các bài học lịch sử đã cho thấy dù chúng ta có nín nhịn cũng chẳng thể được yên. Đã đến lúc phải mạnh mẽ và kiên quyết hơn trên mặt trận pháp lý, ngoại giao.


Tàu chiến Gepard 3.9 tập trận bắn đạn thật trên biển Baltic. Đây là loại tàu chiến mới nhất quân đội VIệt Nam vừa mua của nga.
Về pháp lý, chuẩn bị tích cực và đầy đủ hơn chứng cứ về chủ quyền biển đảo. Về ngoại giao Việt Nam cần kiên quyết cảnh cáo hành vi xâm phạm chủ quyền quốc gia của Trung Quốc. Nên mang vấn đề này ra các diễn đàn khu vực và Liên hợp quốc. Báo chí cần được đưa tin rộng rãi hơn về âm mưu và hành động dã tâm của Trung Quốc, phản ánh dư luận xã hội, tạo nên sức mạnh bảo vệ chủ quyền của đất nước.

Cần cảnh báo cho Trung Quốc hiểu thế giới hiện tại không đơn giản chỉ có mỗi Trung Quốc là cường quốc. Họ chưa đạt mức độ 10 lần hơn đối phương để chủ nghĩa "phiêu lưu" có thể trỗi dậy mà làm một cuộc tấn công bất ngờ nhằm độc chiếm biển Đông. Ngược lại, nếu phải chiến đấu trong thế 1 chọi 10 thì nhân dân Việt Nam cũng cần hiểu rõ và biết trước tình hình để có sự chuẩn bị tốt nhất.

Cần nhận định rõ ý đồ của Trung Quốc là xác lập chủ quyền "Biển Đông" là của Trung Quốc - biển "Nam Trung Hoa" hay "vùng nước lịch sử", các quốc gia khác không được tranh chấp và Trung Quốc dứt khoát không thương lượng về chủ quyền này nhưng Trung Quốc lại nói sẵn sàng "thương lượng" để cùng nhau khai thác!!!

Việt Nam cần quyết liệt chuyển thông điệp cho Trung Quốc hiểu rõ chính sách ngoại giao của Việt Nam là "chung sống hòa bình" và tầm vóc của một cường quốc còn nằm ở khả năng phát triển một cách nhân bản, vị nhân sinh, chứ không phải ở khả năng mở rộng xâm chiếm lãnh thổ của quốc gia khác. Một cuộc tấn công quân sự vào lúc này là "phiêu lưu" và có thể gây chia rẽ bên trong và tàn phá các quyền lợi của đất nước Trung Quốc , thậm chí sự phiêu lưu hay manh động này có thể làm Trung Quốc vỡ ra nhiều mảnh nếu các cường quốc khác tận dụng cơ hội để "tọa sơn quan hổ đấu" hay "mượn gió bẻ măng" không có lợi cho một nước Trung Quốc đang khao khát phát triển.

Việt Nam và các nước có quyền lợi cần dấy lên một phong trào quốc tế vì hòa bình ở biển Đông Nam Á, chống đường chữ U phi lý của Trung Quốc giống như phong trào đòi Mỹ rút khỏi Việt Nam và chấm dứt chiến tranh xâm lược trước đây. Cần có các liên minh, liên kết với các quốc gia gần xa để tạo thế trận "hợp tung" hay "liên hoành" và tích cực tạo dựng nội lực quốc gia thực sự cả về kinh tế, chính trị và quân sự để chứng tỏ với Trung Quốc rằng đất nước Việt Nam này có đủ ý chí và năng lực chiến đấu bảo vệ tổ quốc.

"Không chấp nhận nền hòa bình lệ thuộc"

"....Hòa bình của chúng ta không phải là cầu hòa, Việt Nam không chấp nhận hòa bình lệ thuộc. Khi ta đã làm tất cả những gì có thể để gìn giữ hòa bình mà nước khác cứ muốn xâm hại lợi ích của đất nước ta thì lúc đó, thế của ta sẽ như cánh cung kéo hết, đã buông dây cung thì đó là sức mạnh vô cùng to lớn của cả dân tộc để bảo vệ Tổ quốc mình".

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng

Cũng cần truyền thông và tăng cường giải thích với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, khối ASEAN rằng nếu chia rẽ sẽ dễ bị "bắt nạt" và bẻ gãy dễ dàng. Cuộc cờ ai thắng lợi chưa hẳn do đông quân hay đông dân mà còn tùy thuộc vào khả năng huy động các "tinh binh" hay đội quân tinh nhuệ và thiện chiến nhất vào đúng lúc và đúng các vị trí chiến lược.

Cần rà soát lại, xây dựng tài lực, nội lực đủ mạnh. Cần nỗ lực hơn nữa trong việc xây dựng hải quân nhằm chống lại các hành động đe dọa của Trung Quốc. Củng cố khối đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng lực lượng, phát huy sức mạnh của chính mình để bảo vệ tổ quốc. Hòa giải, hòa hợp dân tộc để các nhân sĩ trí thức người Việt ở các nước và nhất là những người am hiểu luật pháp quốc tế trải lòng giúp đỡ Việt Nam. Người dân cần được biểu lộ thái độ đối với Bắc Kinh, đó chính là sức mạnh, chỗ dựa vững chắc cho những người có trách nhiệm điều hành quản lý đất nước.

Về tên của biển Đông do nước ta đặt, lấy nước ta làm chuẩn, để gọi biển phía đông nước ta là biển Đông. Trung Quốc gọi biển ấy là biền Nam Trung Hoa. Một số trí thức cho rằng ta đặt tên biển Đông không đúng, và vì thế không đạt được sự đồng tình rộng rãi, nên đề nghị gọi là biển Đông Nam Á, vừa gạt Trung Quốc ra ngoài, vừa tranh thủ được ASEAN.

Không gây sự nhưng không nhu nhược

Giống như về mọi chuyện khác, điều quyết định là phát huy nội lực của dân tộc ta, điều rất quan trọng là từ phát huy nội lực mà tranh thủ ngoại lực, và biến ngoại lực thành nội lực của dân tộc ta, đất nước ta. Có người nêu phương châm quan hệ với Trung Quốc là : "Không gây sự, nhưng không nhu nhược".

Chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là điều thiêng liêng của mỗi dân tộc. Người Việt Nam chỉ muốn biển lặng, sóng êm trên biển Đông để cùng chung hưởng hòa bình và dựng xây tổ quốc yêu dấu. Ngày 12/1/2010, trong buổi tiếp Giáo sư Joseph Nye (Mỹ), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu: "Mọi hành vi bắt nạt nước khác đã lỗi thời. Bất kỳ quốc gia nào muốn đứng trên bắt nạt dân tộc khác thì thời đại này cũng khó thực hiện được và không có lợi cho bất kỳ ai".

Quốc hội khóa 13 đang chuẩn bị phiên họp đầu tiên để thảo luận, bầu những chức danh chủ chốt quản lý lãnh đạo đất nước. Người dân mong các vị công bộc của dân hiểu rằng không ai dại, mạo hiểm tấn công vào một thành trì vững chắc, không quốc gia nào dám tấn công vào một quốc gia dân tộc đoàn kết và chiến đấu vì chính nghĩa, một quốc gia có những người dân sẵn sàng "quyết tử cho tổ quốc quyết sinh". Ngược lại, nếu một quốc gia không biết xây dựng và huy động nguồn lực đoàn kết toàn dân tộc, không thể khơi dậy lòng yêu nước và tinh thần xả thân bảo vệ tổ quốc, các công dân đều bị chia rẽ và thờ ơ với cái chung hay vô cảm với các nỗi đau chung của đất nước dân tộc, các nguy cơ mất nước như "trẻ không kính già, trò không trọng thầy, binh kiêu tướng thoái, tham nhũng tràn lan và sĩ phu ngoảnh mặt - Lê Quý Đôn" xuất hiện ngày càng nhiều thì kẻ thù chỉ cần đến trước ngõ và không mất nhiều mũi tên hòn đạn để thôn tính quốc gia đó.

Chúng ta thật lòng mong muốn có một nước Trung Quốc láng giềng giầu có, lớn mạnh nhưng thân thiện cùng hợp tác phát triển. Chúng ta mong muốn Thái Bình Dương trong đó có biển Đông thực sự "thái bình" nhưng đồng thời, không thể không suy nghĩ và cảnh giác về những ý kiến cảnh báo đang xuất hiện trên thế giới về một nguy cơ Trung Quốc nhất là khi Trung Quốc đang làm nổi sóng ở biển Đông!

Ngành hàng không Việt Nam thua lỗ đến bao giờ?

Tác giả: TRẦN ĐÌNH BÁ
Bài đã được xuất bản trên VietnamNet

Đã đến lúc cần phải có một sự đổi mới đột phá ngay trong ngành hàng không Việt Nam (HKVN), để đoạn tuyệt với cơ chế cửa quyền và quan liêu bao cấp, để HKVN thực sự đổi mới và hội nhập, xứng tầm với một quốc gia có vị trí và tầm quan trọng trong khu vực và trên trường quốc tế.

LTS: Làm sao cải thiện được vị thế cho ngành hàng không VN, góp phần giảm thiểu quá tải và tai nạn giao thông trên đường bộ, mới đây, TS Trần Đình Bá- Hội kinh tế & vận tải ĐSVN; Hội Khoa học & kinh tế VN đã có bài viết gửi Tuần Việt Nam. Để rộng đường dư luận, tôn trọng tính thông tin đa chiều, Tuần Việt Nam chúng tôi xin đăng tải bài viết này. Rất mong quý bạn đọc gần xa có nhiều bài viết, ý kiến trao đổi với tác giả về vấn đề này.

Do hoạt động trên cao không bị chia cắt về sông núi, biển cả nên quy luật kinh tế đặc thù tối ưu của ngành hàng không là "đường thẳng nối hai điểm vận tải". Vậy nhưng hàng chục năm nay, Cục Hàng không VN làm trái quy luật đó khi "trói chặt" các hãng HK hoạt động ở Việt Nam bay lòng vòng trong "vườn nhà", để lại sự thua lỗ và không ít sự tụt hậu.

Từ "lãi ròng" sang "lỗ ròng"?

Năm 2009, độc giả cả nước rất chú ý tới sáng kiến "đường bay thẳng HN-TPHCM" do cựu phi công Mai Trọng Tuấn đề xuất, được dư luận xã hội tôn vinh là "đường bay Vàng" và đã được Thủ tướng quan tâm chỉ đạo thực hiện.

Vậy nhưng lãnh đạo Cục HKVN đã tính bài toán hiệu quả kinh tế đường bay rồi kết luận rằng "đường bay thẳng Hà Nội - TP HCM chỉ tiết kiệm được 42 km và 2 phút rưỡi bay nên không kinh tế" và thẳng thừng từ chối sáng kiến này.

Trong khi, khi so sánh hiệu quả kinh tế trên một đường đi vòng với một đường đi thẳng chúng ta sẽ phải đưa về một hệ quy chiếu để so sánh và tìm được giá trị thực của nó bằng một bài toán cao cấp, chứ không thể là một bài toán số học.

Thật đáng buồn khi Việt Nam có gần một trăm giáo sư tiến sỹ ở Học viện HKVN, Cục HKVN, Viện quy hoạch Bộ GTVT nhưng lại không tính nổi bài toán hiệu quả kinh tế đường bay, mà phải đi mua phần mềm tính toán của nước ngoài.

So sánh hiệu quả kinh tế phải tính bằng tỷ lệ % giữa công có ích so với công toàn phần. Công trên đường bay chuyển hướng nhiều lần phải được được tính bằng tích phân đường theo cơ học cổ điển của Newton.


"Hệ quả từ tích vô hướng" là một phương pháp để đưa các đoạn thẳng có phương, có hướng khác nhau quy đổi về một hệ quy chiếu để so sánh. Đường bay Hà Nội - TP HCM theo đường thẳng chỉ là 1140 km, thế nhưng khi phải đi qua Đà Nẵng theo phương vuông góc là 416 km, gọi là công vô ích, làm mất đi 26,2 % chi phí sản xuất.

Như vậy mỗi chuyến bay lãng phí bình quân trên 4000 USD. Đường bay Huế- TP HCM chỉ 630 km, lãng phí theo phương vuông góc 242km mất 27,8%, đường bay Đà Nẵng- TP HCM chỉ 602 km, lãng phí 180 km mất 23,1%. Đường bay Hà Nội- Cần Thơ chỉ 1217 km, lãng phí 474 km mất 28,1% ...

Đó lại là những đường bay có tần suất cao nhất nên đã gây nên sự lãng phí lớn về chi phí sản xuất bao gồm xăng dầu, thời gian thuê máy bay, thuê phi công.

Hãng HK Indo China Alines (ICA) kinh doanh thua lỗ và có nguy cơ phá sản

Toàn bộ 23 tuyến đường bay nội địa tại VN thì đã có 19 đường bay vòng, lãng phí bình quân hơn 25% chi phí sản xuất. Khi mà các ngành kinh tế kinh doanh hay sản xuất lãi ròng chỉ đạt khoảng 8-10% chi phí sản xuất, thì sự lãng phí hơn 25% chi phí sản xuất, đã chuyển đáp số bài toán kinh doanh vận tải hàng không từ "lãi ròng" sang "lỗ ròng" bình quân 25% -10%= 15%.

Nhiều chuyên gia hàng không kỳ cựu đã phải nói: "Hàng không nội địa tại VN chưa bao giờ có lãi!", nhưng họ lại không đi tìm nguyên nhân. Trong 5 hãng Hàng không hoạt động tại VN thì Indochina Alines (ICA) chỉ mới hoạt động trong 1 năm đã lỗ tới 50 tỷ đồng đành phải ngừng bay.

Hãng Jetstar Pacific Airlines (JPA) càng bay nhiều càng lỗ, bình quân mỗi tháng lỗ 2 triệu USD là phù hợp tuyến tính so với tỷ lệ "lỗ ròng" 15% đó và đang đối mặt với nguy cơ phá sản. Hãng HK Vietjet (VJA) được cấp phép từ nhiều năm nhưng không dám bay vì sợ thua lỗ như ICA và JPA.

HK quốc gia VNA được cho là "có lãi" do lấy được đường bay quốc tế đường dài có hiệu quả cao hơn để bù lại cho các đường bay nội địa. Với đường bay nội địa để không bị lỗ, VNA phải móc từ túi tiền của hành khách với giá vé lúc nào cũng cao ngất, cao hơn nhiều so với giá vé các hãng ICA, JPA...

Tất nhiên thiệt hại nặng nề đó thuộc về các công chức và các doanh nghiệp Nhà nước thường xuyên sử dụng dịch vụ VNA và "trăm dâu đổ đầu tằm"- ngân sách Nhà nước phải gánh.

Bay vòng và tư duy "gà què..."

Tại cuộc họp "Đường bay Vàng" ngày 9/7/2009, Cục phó Lại Xuân Thanh đã phát biểu: "Bay qua bầu trời Lào và Campuchia sẽ không đảm bảo an ninh... Các đường bay nội địa ở VN phải được duy trì trong lãnh thổ để thực hiện quyền kiểm soát điều hành".

Tư duy "bay trong vườn nhà" đang thực sự trở thành vòng kim cô trói chặt các hãng HK nước ta trong vòng luẩn quẩn gây lãng phí và thua lỗ. Bởi đường bay thẳng xuyên qua 3 nước Việt Nam- Lào- Campuchia từ Đà Nẵng đến Stungcheng (CPC) đã thực hiện từ những thập kỷ 80 của thế kỷ trước đều an toàn tuyệt đối, nay lại có thêm đường bay Hà Nội- Pakse (Lào) thường xuyên hoạt động.

Với đường bay lòng vòng trong lãnh thổ, Nhà nước hoàn toàn thất thu thuế tài nguyên, còn các hãng HK phải chịu thua lỗ do lãng phí tới 25% chi phí sản xuất.

Cơ chế "trói" này góp phần gây thất thoát mỗi năm trên 30 triệu USD tiền thuế tài nguyên không gian, kèm theo đó là hơn 70 triệu USD do lãng phí về nhiên liệu, tiền thuê máy bay và phi công, khiến các hãng HK đi đến thua lỗ và có nguy cơ phá sản như Indochina Alines (ICA), Jetstar Pacific Airlines (JPA), lỗ và nợ tới gần 200 triệu USD, có nguy cơ phải ngừng bay.

Tư duy "bay trong vườn nhà" đang thực sự trở thành vòng kim cô trói chặt các hãng HK nước ta trong vòng luẩn quẩn gây lãng phí và thua lỗ. Bởi đường bay thẳng xuyên qua 3 nước Việt Nam- Lào- Campuchia từ Đà Nẵng đến Stungcheng (CPC) đã thực hiện từ những thập kỷ 80 của thế kỷ trước đều an toàn tuyệt đối, nay lại có thêm đường bay Hà Nội- Pakse (Lào) thường xuyên hoạt động.

Với đường bay lòng vòng trong lãnh thổ, Nhà nước hoàn toàn thất thu thuế tài nguyên, còn các hãng HK phải chịu thua lỗ do lãng phí tới 25% chi phí sản xuất.

Còn 12 triệu "thượng đế"/ năm, mỗi chuyến bay, bay bình quân mất mất ¼ thời gian và mất ¼ giá trị tấm vé do bay lòng vòng. Hãng HK JPA có 70% vốn điều lệ Nhà nước mà chỉ có duy nhất có 1 phi công VN nhưng lại là lái phụ. Hãng HK quốc gia VNA muốn sắm thêm máy bay cũng phải đi vay nợ nước ngoài nhờ Chính phủ bảo lãnh.

VN đã có Luật HK VN, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư... và Chính phủ VN đã ký hiệp định tham gia "Bầu trời mở rộng" để tiết kiệm nhiên liệu, thời gian và khai thác tài nguyên không gian hợp lý làm giàu cho mỗi nước. Vậy mà Cục HKVN hiện nay đang trói chặt các doanh nghiệp là các hãng HK trong tư duy "gà què"...

Bởi thế cho nên một nước gần 90 triệu dân, có cơ sở hạ tầng tốt nhất ASEAN với 50 sân bay, trong đó có 9 sân bay quốc tế hiện đại, mà chỉ đạt khoảng 12 triệu hành khách/năm, thua xa Singapore, nước có dân số chỉ 3 triệu dân và duy nhất chỉ có 1 sân bay. Chất lượng phục vụ của các hãng HKVN thì thua xa cả HK Lào, đó là một điều đáng hổ thẹn.

Sự thua lỗ và tụt hậu này có phần trách nhiệm từ cơ quan quản lý Nhà nước, đó là Cục HKVN.

Nhớ lại đêm trước của thời kỳ Đổi mới (1986) Giám đốc Hoàng Việt- nhân vật chính trong vở kịch nổi tiếng "Tôi và chúng ta" đã nói một câu đáng suy nghĩ: "Cứ trói chúng tôi lại rồi ném xuống sông thì làm sao bơi được..."". Câu nói này cũng phản ảnh đúng việc làm cửa quyền, quan liêu, bao cấp theo cơ chế "xin- cho", tồn tại thịnh hành ngay trong Cục HKVN hiện nay.

Hoạt động HK là cực kỳ quan trọng phản ảnh vị thế về chính trị, tiềm năng kinh tế, sức mạnh quốc phòng- an ninh, phản ảnh trình độ văn minh của một quốc gia. Đã đến lúc cần phải có một sự đổi mới đột phá ngay trong ngành HKVN, để đoạn tuyệt với cơ chế cửa quyền và quan liêu bao cấp, để HKVN thực sự đổi mới và hội nhập, xứng tầm với một quốc gia có vị trí và tầm quan trọng trong khu vực và trên trường quốc tế.

Bảng hiệu kinh tế đường bay nội địa tại VN theo "Phương pháp TĐB" cho thấy sự lãng phí rất lớn do cơ chế "trói" hiện nay:

Tuyến bay

Chiều dài đường bay thẳng qua 2 điểm ( km )

Quãng đường lãng phí

(km )

Hiệu quả kinh tế

(tỷ lệ % so với chi phí sản xuất)

Lãng phí kinh tế

(tỷ lệ % so với chi phí sản xuất)

Hà Nội - TP Hồ Chí Minh

1140

416

73,2%

26,8%

Hà Nội - Pleiku

812

52

93,9%

16,1%

Hà Nội - Đà Lạt

1031

174

85,5%

14,5%

Hà Nội - Buôn Ma Thuột

948

94

90,9%

9,1%

Hà Nội - Cần Thơ

1217

474

71,9%

28,1%

Hà Nội - Phú Quốc

1215

766

61,3%

38,7%

TP Hồ Chí Minh - Vinh

873

390

69,1%

30,9%

TP Hồ Chí Minh - Hải Phòng

1099

312

77,8%

22,2%

TP Hồ Chí Minh - Đồng Hới

733

316

69.8%

30.2%

TP Hồ Chí Minh - Huế

630

242

72,2%

27,8%

TP Hồ Chí Minh - Đà Nẵng

602

180

76,9%

23,1%

TP Hồ Chí Minh - Nha Trang

309

52

85,5%

14,5%

TP Hồ Chí Minh - Cam Ranh

298

42

89,6%

10,4%

TP HCM - Buôn Ma Thuột

255

82

75,6%

24,4%

TP Hồ Chí Minh - Pleiku

379

96

79,7%

20,3%

TP Hồ Chí Minh - Chu Lai

547

98

84,8%

15,2%

TP Hồ Chí Minh - Đà Lạt

227

54

80,0%

20,0%

TP Hồ Chí Minh - Phú Yên

374

66

85,0%

15,0%

Cộng

13913

4488

75,6%

24,4%

Hiệu quả bình quân trên tất cả các đường bay ở VN chỉ đạt 75,6 %, thiệt hại kinh tế 24,4 % (tỷ lệ lãng phí gần 1/4).

Thứ Hai, 30 tháng 5, 2011

Vụ tàu Bình Minh 02 và phép thử của Bắc Kinh

Tác giả: VIỆT LONG (ĐHQG HÀ NỘI)
Bài đã được xuất bản trên VietnamNet

Có thể nói, sự kiện Bình Minh 02 được xem như một mũi tên bắn nhiều đích. Nhưng cái đích hệ quả cuối cùng những nhà vạch kế hoạch này chưa chắc đã lường hết được. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy vũ lực không bao giờ giải quyết triệt để các tranh chấp. Chỉ có lòng tin và nỗ lực giải quyết các tranh châp bằng các biện pháp hòa bình mới là chìa khóa để giải quyết các vấn đề Biển Đông, phù hợp với luật pháp quốc tế.

>> "Trung Quốc đang cố tình làm dư luận hiểu nhầm"

Theo thông báo của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam, ngày 26/5/2011 các tàu hải giám Trung Quốc đã vi phạm vùng biển thuộc quyền chủ quyền của Việt Nam, gây thiệt hại lớn về kinh tế và cản trở hoạt động bình thường của PVN. Tàu hải giám Trung Quốc đã đe dọa tàu Bình Minh 02, cắt cáp thăm dò địa chấn tại lô 148 Thềm lục địa Việt Nam, cách mũi Đại Lãnh (Phú Yên) 120 km hải lý. Hoạt động thăm dò của tàu Bình Minh đã được diễn ra một cách bình thường từ năm 2010 không có tranh chấp.

Trung Quốc và Việt Nam đều là thành viên của Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 có nghĩa vụ tôn trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia ven biển. Vị trí cắt cáp đã ở gần bờ biển Việt Nam so với phạm vi tối thiểu 200 hải lý thềm lục địa và đặc quyền kinh tế mà quốc gia này được hưởng một cách hợp pháp theo luật quốc tế. Việt Nam ngay lập tức đã trao Công hàm phản đối. Nội dung công hàm nêu rõ hành động nói trên của Trung Quốc vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền của Việt Nam đối với thềm lục địa của mình, vi phạm Công ước Luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc, trái với tinh thần và lời văn của Tuyên bố năm 2002 giữa ASEAN và Trung Quốc về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) cũng như nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước Việt Nam và Trung Quốc về việc không làm phức tạp thêm tình hình Biển Đông[1].

Vì sao Bắc Kinh lại tiến hành những hoạt động như vậy? Xem xét một loạt các sự kiện gần đây Trung Quốc tiến hành ở Biển Đông cho thấy trước hết hoạt động này nằm trong chiến lược chung bảo vệ “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc hay nói một cách chính xác là ý đồ chiến lược độc chiếm Biển Đông. Từ sau vụ va chạm với tàu Impeccable của Mỹ ngày 8/3/2009 và gửi Công hàm đến Liên Hợp quốc ngày 7/5/2009 lần đầu tiên lưu hành bản đồ đường đứt khúc 9 đoạn (đường lưỡi bò) yêu sách 80% diện tích Biển Đông, Bắc Kinh ngày càng tỏ ra quyết liệt thực hiện ý định này, phản đối mọi sự hiện diện của nước ngoài cũng như những nỗ lực duy trì hòa bình, ổn định trong Biển Đông. Nước này đã tăng cường đáng kể sức mạnh quân sự, từ đóng tàu sân bay, tăng cường tàu tuần tra, gia tăng khả năng giám sát của tàu hải quân và ngư chính, đến công bố kế hoạch phát triển 36 tàu tuần tra trong vòng 5 năm tới, mở rộng các căn cứ quân sự ở đảo Triton và các tiền đồn quân sự trên các bãi đá ngầm mà Trung Quốc chiếm ở Trường Sa, xây dựng các căn cứ tàu ngầm, tên lửa ở Hải Nam, Quảng Châu.

Theo Báo cáo phát triển đại dương Trung Quốc do cơ quan Giám sát hàng hải vừa công bố tháng 5/2011 trong năm 2010, cơ quan này đã điều động hơn 1.000 chuyến bay và 13.300 chuyến tuần tra biển trên Biển Đông, nhằm phục vụ cho ý đồ trên. Trung Quốc đã đi từ chính sách “giấu mình chờ thời” sang đòi hỏi “lợi ích cốt lõi” rồi “quyết đoán nhưng không đối đầu”, hô hào “giải quyết song phương” trong khi cho tàu xuống Biển Đông gây sức ép. Biển Đông chưa bao giờ và không khi nào nằm ngoài tính toán chiến lược của Bắc Kinh như một sâu sau nằm dưới quyền phán xét của Trung Quốc.

Hoạt động này nhằm củng cố yêu sách đường lưỡi bò của Trung Quốc ở Biển Đông. Nếu chỉ dựa vào Công ước luật biển 1982 sẽ khó có thể thuyết phục thế giới tin vào chủ quyền của Trung Quốc trên những lô dầu khí nằm cách xa bờ biển Trung Quốc gấp hơn ba bốn lần so với bờ biển Việt Nam hay Philippin. Liệu có phải vô tình khi các hoạt động của Trung Quốc gần đây đều được tiến hành trên đường ranh giới mập mờ của đường lưỡi bò. Hãy xem lại sự kiện quấy nhiễu tàu và máy bay hoạt động của Philippin tại Bãi Cỏ rong trong tháng 3-5/2011, cản trở tàu Bình Minh 02 của Việt Nam tại vùng biển ngoài khơi Miền Trung Việt Nam và việc Trung Quốc đang đàm phán với Indonexia để phối hợp tuần tra chung ở vùng biển cách xa bờ biển Trung Quốc hàng ngàn km.

Hoạt động này nhằm mục đích tranh chấp tài nguyên ở Biển Đông, theo phương châm “khai thác biển xa trước, biển gần sau, nơi tranh chấp trước nơi không tranh chấp sau”. Theo các số liệu do Bloomberg tổng hợp, nguồn dự trữ dầu của nước này đã sụt giảm gần như 40% kể từ năm 2001. Cho nên, nhu cầu khai thác dầu khí Biển Đông càng thêm cấp thiết. Tháng 2/2011, Tập đoàn dầu khí ngoài khơi Trung Quốc công bố kế hoạch đầu tư 350 tỉ nhân dân tệ (54 tỉ USD) trong 5 năm tới để khai thác tài nguyên dầu và khí tự nhiên, trong đó 20 tỉ nhân dân tệ để khai thác và phát triển dầu khí vùng nước sâu. Ngày 24/5/2011 CNOOC ra tuyên bố về ý định triển khai ở Biển Đông trong tháng 7/2011 dàn khoan khùng có khả năng khoan 3000m vừa đóng thành công. Việc đưa dàn khoan này vào hoạt động nhằm hỗ trợ cho yêu sách chủ quyền của Trung Quốc, cũng như giải quyết cơn khát năng lượng của Trung Quốc.cho nền công nghiệp đang trên đà phát triển mạnh. Lệnh cấm đánh bắt cá đơn phương thiết lập thể hiện sự tranh chấp quyết liệt không chỉ dầu khí mà cả tài nguyên sinh vật đang trên đà cạn kiệt.

Hoạt động này nhằm gây sức ép với các nước để thực hiện “gác tranh chấp cùng khai thác”. Ngay sau vụ Bình Minh -02, CNOOC đã công bố 19 lô cùng hợp tác khai thác dầu khí ngoài khơi với các công ty nước ngoài trong khu vực Biển Đông. Bắc Kinh đang cố tình gây ra các tranh chấp để biến vùng biển ven bờ của các nước xung quanh Biển Đông thành các khu vực tranh chấp nhằm đề xuất “gác tranh chấp cùng khai thác”. Một chính sách khôn ngoan cho phép tiếp cận tài nguyên nước khác trong khi vẫn duy trì được tiền đề “chủ quyền thuộc Trung Quốc”.Hoạt động này mang tính răn đe Việt Nam, đặc biệt trong hoàn cảnh kinh tế nước Việt đang khó khăn, lạm phát tăng cao, và đang trong quá trình chuyển giao thế hệ lãnh đạo.

Hoạt động này còn nhằm mục đích gây sức ép với các công ty Mỹ đang có hoạt động dầu khí ở Việt Nam và qua đó thử thách sự phản ứng của siêu cường bên kia bờ Thái Bình Dương. Theo Bloomberg News, công ty Exxon Mobil của Mỹ cũng có kế hoạch thăm dò dầu khí ngoài khơi miền Trung Việt Nam trong năm nay, một địa điểm rất gần với nơi tàu Bình Minh 02 bị cắt cáp.

Hoạt động này còn thăm dò phản ứng của ASEAN. Nó chỉ diễn ra đúng một tuần sau khi hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á lần thứ 5 (ADMM 5), tổ chức tại Jakarta, Indonesia, với chủ đề "Tăng cường hợp tác quốc phòng ASEAN đối phó với những thách thức mới". Tuyên bố của các bộ trưởng đã khẳng định: “Các quốc gia thành viên ASEAN cam kết thực thi đầy đủ, hiệu quả Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và làm việc hướng tới việc thông qua Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) để thúc đẩy hơn nữa hòa bình và ổn định trong khu vực”.. Một trong lời kêu gọi của DOC là các bên cần kiềm chế, không làm gì phức tạp thêm tình hình.

Hoạt động này còn nhằm thỏa mãn tinh thần Đại Hán của một bộ phận nội bộ Trung Quốc với hàng trăm bài báo kêu gọi sử dụng vũ lực...

Có thể nói, sự kiện Bình Minh 02 được xem như một mũi tên bắn nhiều đích. Nhưng cái đích hệ quả cuối cùng những nhà vạch kế hoạch này chưa chắc đã lường hết được. Một dân tộc yêu hòa bình, hết sức kiềm chế và chưa bao giờ khuất phục trước cường quyền. Một dư luận thế giới trong thời kỳ hội nhập, các nước ngày càng phụ thuộc vào nhau, không thể đồng tình với bất kỳ hành động đe dọa sử dụng vũ lực, đi ngược lại các quy định của luật quốc tế. Một ASEAN đang buộc phải cảnh giác. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy vũ lực không bao giờ giải quyết triệt để các tranh chấp. Chỉ có lòng tin và nỗ lực giải quyết các tranh châp bằng các biện pháp hòa bình mới là chìa khóa để giải quyết các vấn đề Biển Đông, phù hợp với luật pháp quốc tế.