Chủ Nhật, 5 tháng 6, 2011

Chiến lược Chuỗi Ngọc Trai và việc bảo vệ chủ quyền VN trên Biển Đông

Tác giả: NHÓM TÁC GIẢ QUỸ NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG*
Bài đã được xuất bản trên VietnamNet

Bài viết phân tích động thái của Trung Quốc trong thời gian gần đây, trong không gian ngoài phạm vi Biển Đông, từ đó đề xuất một số giải pháp để bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông và có tham khảo tới các giải pháp của các quốc gia khác đang tiến hành chống lại sự bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông.

LTS: Tuần Việt Nam giới thiệu bài viết của nhóm tác giả Quỹ Nghiên cứu Biển Đông Lê Vĩnh Trương, Dư Văn Toán, Nguyễn Đức Hùng, Nguyễn Trọng Bình, Đàm Quang Minh, Phạm Thu Xuân như một góc nhìn riêng để tham khảo.


Trong những năm gần đây Trung Quốc tiếp tục có những hành động xâm phạm nghiêm trọng đến vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam và của các nước khác trên Biển Đông. Trung Quốc đơn phương tuyên bố một đường phân định ranh giới trên biển không có cơ sở pháp lý và chiếm gần hết Biển Đông. Trung Quốc đơn phương cho các tàu hải giám và kiểm ngư, những tàu thuyền quân sự và cảnh sát trá hình, vào những khu vực thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam và các nước khác.

Sự kiện gần đây nhất là một đội tàu hải giám đã đi vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam ở vị trí (vĩ độ, kinh độ) nằm cách đường cơ sở của Việt Nam chưa tới 120 hải lý, phá hoại và cản trở hoạt động thăm dò địa chấn của Việt Nam. Hành động này vi phạm nghiêm trọng trọng Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS 1982) và Hiến chương liên hợp quốc.

Sự việc không chỉ ở tầm Biển Đông sát bên cạnh yết hầu kinh tế và quân sự của Việt Nam!

Sự việc nằm ở chiến lược Chuỗi Ngọc Trai đầy toan tính của Trung Quốc nhằm gia tăng sức mạnh năng lượng, kinh tế và quân sự của mình.

Không gian chiến lược này sẽ khởi đầu từ đảo Hải Nam của Trung Quốc, tiến ra đảo Phú Lâm (Hoàng Sa), và một số đảo tại quần đảo Trường Sa (của Việt Nam đang bị Trung Quốc chiếm), xuống kênh đào Kra, ôm lấy Myanmar và dừng bước tại cảng Karachi của Pakistan. Con đường trên biển này sẽ bảo đảm về mặt tiếp liệu, vận tải nhiên liệu, sản phẩm và quân đội khi cần thiết.

Bài này sẽ phân tích động thái của Trung Quốc trong thời gian gần đây, trong không gian ngoài phạm vi Biển Đông, từ đó đề xuất một số giải pháp để bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông và có tham khảo tới các giải pháp của các quốc gia khác đang tiến hành chống lại sự bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông.

Những gì đang diễn ra liên quan Trung Quốc?

Những bất ổn liên tục xảy ra tại Trung Quốc từ cuối tháng tư 2011 đến nay như cuộc đình công năm ngày của các tài xế xe tải tại Thượng hải, tiếp theo đó là các vụ đánh bom tại Giang Tây và những cuộc biểu tình tại Nội Mông.

Thời gian đó, Trung Quốc liên tục cử những phái đoàn quân sự đi ra nước ngoài trong tháng 5 năm 2011.

Ngày 26/05/2011, Trung Quốc ngang ngược cắt đứt cáp thăm dò của tàu Bình Minh 02 ngày 26/05/2011 mặc dầu đã có sự phản đối của tàu biên phòng hộ tống và chính tàu Bình Minh 02 thuộc PVN.

Bộ Ngoại giao Trung Quốc ra tuyên bố rằng họ chỉ hoạt động trên vùng biển Trung Quốc một cách ngụy biện. Vậy chúng ta phải chỉ rõ cho nhân dân toàn thế giới thấy rằng họ đã nói không đúng sự thật bằng các bản đồ và các bài viết của chúng ta.

Vào ngày 31/05/2011, 3 tàu quân sự Trung Quốc đã nổ sung uy hiếp, ngăn cản 4 tàu cá của tỉnh Phú Yên trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam. Bộ tư lệnh Bộ đội biên phòng tỉnh Phú Yên, Việt Nam đã đề nghị Bộ Ngoại giao can thiệp.

Những hành động này là một hành động có tính toán Trung Quốc để vừa giảm nhiệt trong nước vừa phục vụ ý đồ tiến xuống phía nam để phục vụ cho chiến lược Chuỗi Ngọc Trai nhằm khống chế cả Biển Đông và Ấn Độ Dương.

Do những nhu cầu bức thiết trên, Trung Quốc đã tạm thời hy sinh hình ảnh phát triển hòa bình để lấn xuống biển Đông một cách mạnh bạo. Không phải Trung Quốc không biết rằng họ đang đứng trên luật pháp quốc tế, nhưng họ đang tận dụng thời cơ hiện tại bên ngoài và giải quyết những bất ổn nội bộ để đi nhanh hơn trên con đường bá quyền của mình.

Trung Quốc liên tục tác động đến Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar để phá vỡ nguyên tắc đồng thuận phát ngôn của ASEAN, mặt khác luôn muốn trói các nước trong tranh chấp biển Đông vào "khung giải quyết" là "thương lượng song phương" cho một vấn đề quốc tế. Trước hội nghị thượng đỉnh Trung Quốc - ASEAN vào tháng 10/2009 tại Huahin (Thailand), bà Tiết Hán Cần, đại sứ Trung Quốc tại ASEAN đã phát biểu: "Trung Quốc cho rằng đây là bất đồng giữa Trung Quốc và các nước riêng rẽ xung quanh Biển Đông, chứ không phải giữa Trung Quốc và Asean... Và bà cũng nói thêm: "Cuộc họp này của ASEAN phải là trong khuôn khổ hợp tác, chứ không phải là để tranh cãi". Đây là động tác hạn chế người khác nói, còn chính Trung Quốc thì vừa nói vừa hành động thô bạo.

Sau tuyên bố tại Hội nghị ARF tháng 7/2010 của Ngoại trưởng H. Clinton, Trung Quốc đã phản ứng quyết liệt. Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì cho rằng phát biểu của Ngoại trưởng Mỹ là "Đưa vấn đề song phương thành vấn đề quốc tế, hoặc đa phương sẽ chỉ làm trầm trọng thêm tình hình và gây thêm khó khăn trong việc giải quyết vấn đề này". Đây chỉ là một ngụy biện nhằm bẻ đũa từng chiếc.

Tháng 11/2010, Việt Nam đã tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế về biển Đông lần 2, Hội thảo này là cơ hội cho Việt Nam để tìm kiếm những tiếng nói đa phương cho việc giải quyết tranh chấp. Trong Hội nghị có tính cách kênh hai lần này Trung Quốc đã làm giảm nhẹ tuyên bố "lợi ích cốt lõi" của mình. Tuy nhiên, việc không khẳng định và không phủ nhận tuyên bố vô lý này cho thấy ASEAN, Ấn Độ và thế giới cần cảnh giác cao hơn nữa.

Như tác giả Dương Danh Huy đã nhận xét , đây không phải hành động đầu tiên và không phải cuối cùng tại biển Đông. Chúng tôi bổ sung, những hành động này sẽ không chỉ xảy ra trên biển Đông và biển Nhật Bản mà sẽ sắp sửa xảy ra tại Ấn Độ Dương và các vùng nước khác trong tương lai rất gần.
Ngẫu nhiên không may mắn cho Việt Nam là ở ngay tâm điểm của chiến lược Chuỗi Ngọc Trai của Trung Quốc, tuy nhiên nếu chúng ta biết vận động sâu rộng đến nhân dân và chính phủ các nước ASEAN, Ấn Độ, Bangladesh và cả Pakistan, Afganistan, thì nguy cơ có thể sẽ biến thành cơ hội.

Việt Nam chúng ta sẽ cô độc nếu chỉ dừng sự đấu tranh tại biển Đông mà không mở rộng sang các nước vẫn đang nắm tình hình nhưng trù trừ không lên tiếng như ASEAN và cả Mỹ và Ấn Độ.

Những biện pháp bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông

Về Ngoại Giao

Ngoại giao nhân dân: Phổ biến thông tin về sự ngang ngược của Trung Quốc đến tất cả các tầng lớp nhân dân, hội đoàn dân sự trong một chiến lược lâu dài bằng tiếng Việt và nhiều thứ tiếng khác. Những hoạt động khoa học, văn hóa thể thao của Việt Nam tại các nơi trên thế giới sẽ được bổ sung nội dung bị ức hiếp của ngư dân và các công ty Việt Nam. Trong đó nêu bật thái độ bất chấp UNCLOS 1982 và DOC 2002 của Trung Quốc.

Không giới hạn công việc bảo vệ chủ quyền quốc gia chỉ tại trong nước mà cần phải có một sự vận động sâu rộng có tầm mức quốc tế. Không giới hạn việc tác động đến chính giới mà còn mở rộng ra đông đảo các tầng lớp nhân dân và học giả Trung Quốc bằng truyền thông và ngoại giao kênh hai.

Về sức mạnh tổng hợp:

- Trong đánh bắt và khai thác hải sản, Trung Quốc dùng chiêu bài hải giám và ngư chính để ngụy trang cho các hành động bạo lực của mình. Vậy Việt Nam cũng cần có những đội tàu dân sự nhưng được trang bị đủ sức mạnh để phản ứng lại tàu dân sự giả hiệu của Trung Quốc.

- Chiến lược biển của Việt Nam sẽ không tách rời các hoạt động hợp tác xây dựng các khu bảo tồn thiên nhiên, sinh thái hay công viên đại dương xuyên quốc gia với láng giềng.Và nếu cần thì các công tác khảo sát địa chấn và thềm lục địa có thể thuê các công ty nước ngoài kết hợp thực hiện. Cần có một bộ có đủ chức năng liên ngành để lo việc bảo vệ chủ quyền và phát triển và khai thác biển.

- Ðẩy mạnh và nhanh cùng quyết tâm hơn nữa trong việc hiện đại hoá nền kinh tế, quân sự, vũ trang toàn dân song song với việc tổ chức một xã hội và nền chính trị hiện đạị, tạo ra một sức mạnh vững chắc và đầy đủ thế và lực trên trường quốc tế, đủ sức đối phó với nước xâm lấn.

- Kiên quyết hơn trong sử dụng sức mạnh răn đe, nếu chúng ta chưa đủ sức mạnh như Nhật Bản để bắt giữ tàu Trung Quốc thì Việt Nam cũng phải có khả năng dùng máy bay chiến đấu để xua đuổi tàu Trung Quốc vi phạm chủ quyền như Philippines đã từng thực hiện..

- Nhanh chóng và dài hạn thực hiện một chiến lược liên kết toàn cầu, nhất là với các cường quốc kinh tế và quân sự với sách lược từng vùng, từng giai đoạn để tự phá vỡ vòng vây ngày càng thắt chặt này. Việc vận động nhân dân và chính phủ của các đất nước nằm trong Chuỗi Ngọc Trai sẽ do một cơ quan chuyên trách của Chính phủ thực hiện cùng với sự đóng góp ý kiến của người dân Việt Nam. Cảnh báo cho nhân dân thế giới và nhân dân Ấn Độ về những tham vọng này của Trung Quốc cũng sẽ là một phần của ngoại giao nhân dân.

Kết luận

Tất cả những giải pháp đều có những mặt cần phải bổ sung và chuyển hướng chiến lược nhanh, đáp ứng, phản công kịp thời với sự biến động những biến động của tình thế. Để có một tổng thể các giải pháp, cần có một sự động não toàn dân, vận động toàn dân cùng sức người sức của khắp nơi trên thế giới.

Sự "trỗi dậy" của Trung Quốc và sự bộc lộ tham vọng to lớn của họ qua chiến lược Chuỗi Ngọc Trai chứng tỏ họ đã bỏ qua giai đoạn giấu mình chờ thời khiến cả thế giới lo ngại, không chỉ ASEAN, và Ấn Độ mà Mỹ, Nhật Bản và các nước có lợi ích trong giao thông hàng hải trên toàn thế giới.

Thực chất của tình trạng căng thẳng trên biển Đông, dẫn đến cuộc chiến về hoạt động đối ngoại vừa qua chính là việc Trung Quốc muốn gia tăng ảnh hưởng lên khu vực, đè bẹp các nước ASEAN, thăm dò phản ứng của Mỹ và Ấn Độ.

Do vậy, việc Trung Quốc sử dụng vũ lực hay không một phần cũng sẽ do các nước có thái độ nhân nhượng quá đáng hay không và người Mỹ người Ấn có thực hiện đúng tư thế của những nước có lợi ích quốc gia về hàng hải hay không.

-----------------------
* Nhóm tác giả: Lê Vĩnh Trương, Dư Văn Toán, Nguyễn Đức Hùng, Nguyễn Trọng Bình, Đàm Quang Minh, Phạm Thu Xuân (Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông)

Thứ Năm, 2 tháng 6, 2011

Chiến lược phòng thủ chủ động của Trung Quốc và tác động đối với khu vực (Phần 2)

Bài đã được xuất bản trên ITimes.vn

Những báo cáo tình báo gần đây cho biết Trung Quốc hiện sở hữu 3 tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo, 59 tàu ngầm tấn công thuộc nhiều lớn khác nhau, 48 tàu frigates, 26 tàu khu trục, 40 tàu tác chiến mìn, 1 tàu đổ bộ boong lớn, 57 tàu đổ bộ nhỏ hơn và sắp có một tàu sân bay cải tiến (Varyag) cùng với một tàu sân bay khác đang trong giai đoạn tự thiết kế.

Bài phát biểu của Hạ nghị sỹ Robert J. Wittman

Những chính sách và con số đáng lo ngại của Trung Quốc

Năm 2008 Cộng đồng tình báo Mỹ đã cảnh báo: “Xét về quy mô, tốc độ và hướng phát triển, sự thịnh vượng và sức mạnh kinh tế toàn cầu đang chuyển đổi mạnh mẽ từ Tây sang Đông và là xu hướng chưa có tiền lệ trong lịch sử hiện đại”. Nếu nhìn lại lịch sử, chúng ta nhận thấy rằng: Những năm 1700 là giai đoạn thống trị của nước Pháp, những năm 1800 đặt dưới sự thống trị của Anh, những năm 1900 là thời đại thống trị của Mỹ. Vậy câu hỏi đặt ra là: sự thống trị sẽ diễn ra ở đâu trong thế kỷ 21 này?

Chứng kiến những gì đang diễn ra trên thế giới, rõ ràng Trung Quốc đang ở top đầu danh sách.

Chúng ta đều biết rằng năm 2010 Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản trở thành nền kinh tế thứ hai thế giới chỉ sau Mỹ. Trung Quốc hiện là nước xuất khẩu lớn nhất thế giới mà Mỹ làm một trong những khách hàng lớn nhất của họ. Như vậy, mối lo ngại nằm ở đó.
Với tốc độ tăng trưởng như hiện nay, sức mạnh tài chính toàn cầu tại châu Á chắc chắn sẽ lớn hơn của Mỹ vào năm 2036, một số chuyên gia còn tin rằng nó sẽ lớn hơn ngay ở năm 2020. Đó là tốc độ đủ nhanh để bắt kịp và vượt qua Mỹ.

Các chính sách quân sự của Trung Quốc đều nhằm mục tiêu chuyển đổi nguồn lực kinh tế đang gia tăng thành một quân đội chiến đấu đẳng cấp thế giới và chúng ta đang xem xét rất cẩn trọng sự chuyển đổi này diễn ra như thế nào. Quan điểm cho rằng sự thịnh vượng đang tăng lên của Trung Quốc đồng nghĩa với việc họ sẽ hành động như một cường quốc quân sự như hiện nay không tìm được bất cứ sự ủng hộ nào trong chính phủ ở Bắc Kinh. Họ nhận thức rất rõ mình đang ở đâu với cương vị là một cường quốc nổi trội trên thế giới.

Quá trình hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc bắt đầu được đẩy mạnh từ giữa đến cuối những năm 1990 nhằm đáp ứng yêu cầu của các nhà lãnh đạo trung ương: phát triển các chiến dịch quân sự đủ khả năng đáp trả mối đe dọa từ Đài Loan. Tốc độ và quy mô phát triển quân sự của Trung Quốc đã làm cho cán cân quân sự khu vực bị đe dọa. Chúng ta đang chứng kiến những gì diễn ra mỗi ngày và hàng ngày ỏ khu vực Đông Á này.

Tuy nhiên, trong khi sự chuyển đổi quân sự của Trung Quốc đang diễn ra với một tốc độ nhanh hơn nhiều chuyên gia dự đoán thì cũng phải thấy rằng họ vẫn còn thiếu kinh nghiệm tác chiến hiện đại trực tiếp và ứng dụng cơ bản về phối hợp liên quân.

Các chiến dịch chống thâm nhập hiện nay của Trung Quốc tìm cách ngăn chặn các quốc gia bên ngoài khuyếch trương sức mạnh vào khu vực và ngăn không cho họ có đủ năng lực vượt trội để khuyếch trương sức mạnh. Trung Quốc nhận thấy cần phải xem xét vấn đề hợp nhất các liên minh và đối tác an ninh của Mỹ, giảm bớt an ninh và ảnh hưởng của Mỹ tại khu vực đồng thời làm gia tăng khả năng xung đột. Chúng ta nhận thấy đi cùng với khả năng đang gia tăng của Trung Quốc là hoạt động chống tàu thâm nhập mà Mỹ không thể đối phó đã tạo ra những mối quan ngại sâu sắc và khả năng chống thâm nhậm đó kéo dài ra 1.200 dặm ngoài đường bờ biển - một con số rất đáng lo ngại.

Báo cáo phân tích về mối đe dọa của Lầu năm góc gần đây cho biết các nhà lãnh đạo ở Bắc Kinh có một niềm tin chung, đó là: sự trỗi dậy của Trung Quốc là không thể dừng lại và nước Mỹ đang trên đà đi xuống.

Bước đầu tiên trong tiến trình trỗi dậy kéo dài nhiều thập kỷ đó đảm bảm cho Trung Quốc quyền kiểm soát các vùng biển phía Đông giáp với lãnh thổ của mình. Và rõ ràng khu vực Đông Á là nơi chúng ta nhận thấy sự hiện diện và các hoạt động của Trung Quốc diễn ra chủ động nhất.

Dẫn chứng một vài ví dụ gần đây để thấy được sức mạnh đang tăng của quân đội Trung Quốc:

- Năm 2007 Trung Quốc phá hủy một vệ tinh thời tiết đã hết hạn sử dụng đang hoạt động trên một quỹ đạo tương tự với quỹ đạo của các tàu vũ trụ chụp ảnh do thám của Mỹ.

- Gần đây hơn, Trung Quốc đã thử thành công tên lửa đạn đạo Đông Phong DF-21D đủ khả năng tấn công các tàu sân bay của Mỹ ở Tây Thái Bình Dương, một loại vũ khí khá “thú vị” , bay theo đường parabol, có thể quay trở lại trái đất, và khi phát hiện được mục tiêu, nó bay theo hình zigzag tấn công mục tiêu làm cho việc đối phó trở nên rất khó khăn.

- Các vụ bay thử nghiệm chiến đấu cơ tàng hình J-20 và cải tiến tàu sân bay của Liên Xô cũ (Varyag) là những phát triển đáng lo ngại, đó là chưa kể tới các sáng kiến gia tăng số lượng tàu chiến mặt nước, tàu ngầm, tên lửa hành trình chống tàu, các khả năng tác chiến điện tử và tấn công mạng máy tính, việc hiện đại hóa mạng lưới radar cảnh báo sớm cũng như hệ thống do thám và định vị mục tiêu trên biển.

Nhờ vị thế kinh tế toàn cầu, Trung Quốc ngày nay sở hữu và vận hành một nền công nghiệp đóng tàu hùng mạnh, cạnh tranh toàn cầu. Nước này hiện được xem là quốc gia đóng tàu lớn thứ hai thế giới, và do vậy theo nhiều cấp độ khác nhau trở thành mối lo ngại của Mỹ không chỉ ở khía cạnh quân sự mà còn cả lĩnh vực thương mại.

Việc mở rộng và hiện đại hóa các xưởng đóng tàu đã giúp tăng khả năng và năng lực đóng tàu của Trung Quốc, mang lại nhiều lợi ích cho tất cả các dự án quân sự thuộc nhiều chủng loại. Những báo cáo tình báo gần đây cho biết Trung Quốc hiện sở hữu 3 tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo, 59 tàu ngầm tấn công thuộc nhiều lớn khác nhau, 48 tàu frigates, 26 tàu khu trục, 40 tàu tác chiến mìn, 1 tàu đổ bộ boong lớn, 57 tàu đổ bộ nhỏ hơn, và sắp có một tàu sân bay cùng với một tàu sân bay khác đang trong giai đoạn tự thiết kế.

Nếu so sánh với con số 286 tàu chiến của Hải quân Mỹ hiện nay, (còn theo kế hoạch dự kiến sẽ là 313 chiếc), thì rõ ràng số lượng trên của Trung Quốc đang tạo ra nhiều lo ngại.

Lần đầu tiên, nếu nhìn vào tổng lực hải quân Trung Quốc, về số lượng, họ tiến nhanh hơn Mỹ. Hiên tại chúng ta có thể biện hộ rằng, chất lượng hạm đội của Mỹ tốt hơn Trung Quốc nhưng xét theo một vài khía cạnh nào đó thì số lượng sẽ vượt qua chất lượng. Khi Trung Quốc trở thành nước lãnh đạo nền kinh tế toàn cầu, chúng ta biết rằng con số này sẽ tiếp tục gia tăng. Người Trung Quốc rất quyết liệt bám theo định hướng đó.

Đối sách của Mỹ?

Mối lo ngại của tôi là liệu chúng ta có đang đầu tư nguồn lực cần thiết vào hệ thống vũ khí của mình để đối phó hoặc đáp trả mối đe dọa đang nổi nên này? Vấn đề nằm ở chỗ, các quyết định chiến lược và ngân sách được thực hiện như thế nào ở Lầu năm góc? Liệu nhu cầu chiến lược thúc đẩy ngân sách hay ngân sách đang chèo lái các nhu cầu chiến lược? …

Để đối phó với mối đe dọa chống thâm nhập đang nổi nên tại châu Á, Mỹ cần tập trung vào việc bố trí lực lượng, tiếp tục duy trì các liên minh trong khu vực, duy trì sự có mặt hiện tại ở các căn cứ nằm ở những vị trí chiến lược tại Tây Thái Bình Dương.
Năm 2010, Báo cáo đánh giá quốc phòng 4 năm 1 lần đã chỉ trích Trung Quốc thiếu tính minh bạch trong các kế hoạch phát triển quân sự và các tiến trình đưa ra quyết định của họ. Tiếp tục trao đổi liên quân sự là cần thiết để giảm bớt những hiểu lầm và không tin tưởng lẫn nhau.

Chúng ta phải hành động nhiều hơn nữa để đảm bảo có sự minh bạch trong mối quan hệ này và chúng ta muốn sự minh bạch đó được đẩy mạnh. Đó là cách duy nhất để tránh hiểu lầm và tránh xảy ra điều gì đó tạo sự hiểu lầm và không tin tưởng có thể dẫn tới xung đột tiền tàng trong tương lai.

Chúng ta biết rằng chính phủ Trung Quốc đang đầu tư quyết liệt cho tương lai của chính họ và chắc chắn họ sẽ tiếp tục hành động như vậy. Nước Mỹ phải xem xét kỹ cơ cấu lực lượng của chính mình, phải đầu tư các nguồn lực cần thiết trong các lĩnh vực như đóng tàu, phải xem xét nghiêm túc cách thức chuyển đổi ưu tiên trong ngân sách quốc phòng sẽ ảnh hưởng tới khả năng của mình như thế nào trong việc đối phó với mối đe dọa tại Thái Bình Dương. Hơn nữa chúng ta biết Trung Quốc không phải là một mối đe dọa duy nhất mà Mỹ phải đối phó ở Thái Bình Dương.


Anh Minh (Theo USCC)

Chiến lược phòng thủ chủ động của Trung Quốc và tác động đối với khu vực (Phần 1)

Bài đã được xuất bản trên ITimes.vn

Trước sự trỗi dậy ngày càng mạnh mẽ của quân đội Trung Quốc, đặc biệt là sức mạnh hải quân, khả năng tác chiến mạng và thực thi các chiến dịch trong không gian, tháng Một năm 2011 Ủy ban Đánh giá Kinh tế và An ninh Mỹ - Trung (USCC) đã tổ chức phiên họp điều trần với chủ đề "Chiến lược phòng thủ chủ động của Trung Quốc và tác động đối với khu vực", trong đó các chuyên gia đã phản ánh tương đối tổng quan xu thế phát triển chiến lược quốc phòng của Trung Quốc thời gian tới. iTimes xin trân trọng giới thiệu tới độc giả.
Bài phát biểu của Carolyn Bartholomew, Ủy viên USCC


Carolyn Bartholomew


Ngay trước chuyến thăm của Bộ trưởng quốc phòng Robert Gates tới Bắc Kinh, Đô đốc Willard – Chỉ huy các lực lượng Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương đã cảnh báo Trung Quốc sẽ triển khai một tên lửa đạn đạo chống tàu có khả năng bắn trúng các tàu sân bay của Mỹ nằm cách bờ biển Trung Quốc hàng nghìn dặm. Chỉ vài ngày sau đó, khi Bộ trưởng Gates đang tham dự các cuộc hội đàm tại Bắc Kinh, Trung Quốc cho bay thử nghiệm chiến đầu cơ tàng hình đầu tiên cùng với việc để thông tin về chuyến bay “rò rỉ” trên Internet.


Các sự viện đó, cùng với những diễn biến mới liên quan trong thời gian gần đây, dường như là biểu hiện của một nỗ lực phát triển các khả năng nhằm trực tiếp đối phó với quân đội Mỹ. Ở Mỹ, thường được đề cập với tên gọi “Chống thâm nhập”, chiến lược này đang được vận hành ở tất cả các không gian tác chiến: trên bộ, trên biển,trên không, trong vũ trụ và trong không gian mạng.


Tàu hải quân Trung Quốc

Điều quan trọng hơn là PLA đang cố gắng tích hợp và đồng bộ hóa các khả năng của mình ở các không gian này nhằm đạt hiệu quả một cách tối đa các khả năng tương đương với cách quân đội Mỹ thực hiện các chiến dịch liên quân phối hợp. PLA không chỉ đơn giản phát triển và tích hợp các khả năng quân sự truyền thống mà họ còn đang thử nghiệm các phương thức khác mang tính truyền thống ít hơn nhưng lại rất hiệu quả. Các cuộc tấn công không gian mạng và các chiến dịch phản vũ trụ đang đóng vai trò như những chiến dịch bổ trợ sức mạnh cho các khả năng chống thâm nhậm đang được tăng cường của PLA.


Các chiến dịch quân sự của Mỹ tại Tây Thái Bình Dương phụ thuộc rất lớn vào nguồn thông tin chuyển tải qua các hệ thống đặt trên không, trong vũ trụ hay đất liền. Bình luận về những phát triển của Trung Quốc trong tác chiến mạng và tác chiến chống vệ tinh, Bộ trưởng Gates lo ngại: “những tiến bộ này bộc lộ thách thức tiềm tàng cho khả năng hoạt động và truyền thông của quân đội Mỹ ở Tây Thái Bình Dương”.


Các khả năng chống thâm nhập đang lớn mạnh của Trung Quốc không chỉ bộc lộ những vấn đề tiềm tàng cho Mỹ mà còn cho các quốc gia trong khu vực, trong đó nhiều nước là bạn bè, đồng minh lâu dài của Mỹ cũng bị ảnh hưởng. Theo nhiều cách khác nhau, chiến lược chống thâm nhập của Trung Quốc có thể được hiểu chính xác hơn là chiến lược kiểm soát khu vực. Các quốc gia trong khu vực không phải không hiểu được sự khác biệt này. Những tháng gần đây, nhằm giám sát và phản ứng tốt hơn trước những phát triển quân sự của Trung Quốc, Nhật Bản đã tuyên bố tái sắp xếp lại lực lượng, đặc biệt là xung quanh các đảo cực Nam của nước này. Tại Đông Nam Á, cuộc chạy đua vũ trang trên biển đang diễn ra phần lớn bị thúc đẩy bởi các khả năng đang gia tăng của Trung Quốc.


Bài phát biểu của Larry Wortzel, Ủy viên USCC



Đối với Mỹ, đảm bảo tự do hàng hải trên toàn thế giới đã là một ưu tiên ngay từ thời lập quốc. “Chiến lược hợp tác vì sức mạnh trên biển trong thế kỷ 21” của Lực lượng bảo vệ bờ biển Mỹ viết rằng: “Các tuyến đường trên biển và hạ tầng hỗ trợ trên đất liền là những dòng chảy của kinh tế toàn cầu”. Bởi vậy bảo đảm tự do lưu thông ở các tuyến đường biển và đường không toàn cầu có tầm quan trọng thiết yếu đối với Mỹ và thế giới.


Những hàng động và phát ngôn gần đây của Trung Quốc về tự do hàng hải trong khu vực, bao gồm cả tuyên bố về những hàng động được phép ở vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) là không phù hợp với các quy định quốc tế đã được thiết lập. Cách hiểu riêng đó của Trung Quốc về Luật biển đang được tăng cường bởi việc sử dụng các lực lượng an ninh trên biển ngày càng tăng của họ.


Những tuyên bố về chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông và Biển Hoa Đông mà Trung Quốc liên tục đưa ra trong thời gian gần đây xung đột với những tuyên bố của các quốc gia láng giềng trong khu vực. Cách tiếp cận quả quyết này của Trung Quốc đã dẫn tới va chạm với các nước láng giềng, trong đó có Nhật Bản - đồng minh thân cận của Mỹ.


Vụ va chạm giữa tàu do thám của Mỹ Impeccable với nhiều tàu Trung Quốc năm 2009 và một vụ tương tự với tàu USNS Bowditch ở Biển Đông đã chứng minh cho quan điểm hiếu chiến hơn của Trung Quốc. Chiến lược quân sự phòng thủ chủ động của Trung Quốc có những nhân tố kết hợp các chiến dịch phòng thủ truyền thống với hành động tấn công, điều này đã được các chuyên gia quân sự của chính Trung Quốc thừa nhận.


PLA tuyên bố rằng để bảo vệ Trung Quốc họ phải có đủ khả năng giành quyền kiểm soát tất cả các không gian tác chiến. Theo quan điểm của các chuyên gia quân sự Trung Quốc, chỉ bằng cách hành động nhanh chóng và quyết định ngay ở những giai đoạn đầu của cuộc xung đột họ mới có thể hy vọng giành chiến thắng trong cuộc chiến tranh hiện đại, đặc biệt nếu cuộc chiến đó liên quan đến Mỹ.


Hơn nữa, trong phạm vi mà chiến lược phòng thủ chủ động của Trung Quốc cho phép thực hiện các đòn tấn công phủ đầu, dễ nhận thấy rằng Mỹ có thể phải đối diện với một cuộc tấn công của PLA trong một cuộc xung đột không có sự cảnh báo, cảnh báo chút ít hoặc chẳng cần cảnh báo.


Chuỗi đảo thứ nhất và chuỗi đảo thứ hai

Chiến lược phòng thủ chủ động của Trung Quốc mang một hàm ý địa lý. Trong trường hợp xảy ra xung đột, PLA sẽ tìm cách giành quyền kiểm soát khu vực biển rộng lớn trong phạm vi mà Trung Quốc gọi là “Chuỗi đảo thứ nhất” bao gồm một loạt các hòn đảo kéo dài từ Nhật Bản qua Đài Loan và Philipin tới Indonesia.


Mục tiêu kiểm soát khu vực đang được mở rộng. Trong những năm gần đây, các tài liệu lý luận của quân đội Trung Quốc dường như hậu thuẫn việc mở rộng khu vực hoạt động ở phía Đông Đài Loan và Nhật Bản sang "Chuỗi đảo thứ hai", trên 1.800 dặm ra Thái Bình Dương tính tại điểm rộng nhất. Khả năng thực hiện các hoạt động ngày càng phát triển và học thuyết của PLA về việc sử dụng tên lửa nghĩa là Mỹ phải lo ngại về các chiến dịch tấn công nhằm vào tất cả các căn cứ của Mỹ và tuyến đường hậu cần phía tây Hawaii gồm cả đảo Guam.

Ai đang làm nổi sóng ở biển Đông?

Tác giả: TÔ VĂN TRƯỜNG
Bài đã được xuất bản trên VietnamNet


Một câu hỏi được đặt ra vì sao Trung Quốc lại hành xử bất chấp luật pháp quốc tế và giải pháp nào cho Việt Nam trước mắt cũng như lâu dài về bài toán biển Đông để Thái Bình Dương thực sự là thái bình?

Bão gió ở Thái Bình Dương là nhiều nhất, dữ dội nhất so với các đại dương khác. Từ xưa, các cuộc chiến tranh, xung đột vũ trang ở Thái Bình Dương cũng nhiều và ác liệt nhất. Biển Đông, một phần của Thái Bình Dương cũng chẳng mấy khi "sóng yên, biển lặng". Và nay thì sóng gió biển Đông có vẻ tăng về cường độ và tần suất bởi những tranh chấp về chủ quyền, mà điển hình là tranh chấp do Trung Quốc chủ ý phát động.

Trong những ngày vừa qua, trên các phương tiện thông tin đại chúng trong và ngoài nước tràn ngập các bình luận về việc Trung Quốc đưa 3 tầu chiến dưới danh nghĩa tàu hải giám xâm nhập vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Ngang ngược hơn cả là 3 tàu hải giám này ngang nhiên cắt cáp thăm dò địa chấn của tàu Bình Minh 02 của PetroViệt Nam, hoành hành suốt hơn 3 tiếng đồng hồ trên lãnh thổ của một nước láng giềng có chủ quyền, quan hệ hữu hảo!

Một câu hỏi được đặt ra vì sao Trung Quốc lại hành xử bất chấp luật pháp quốc tế và giải pháp nào cho Việt Nam trước mắt cũng như lâu dài về bài toán biển Đông để Thái Bình Dương thực sự là thái bình?

Mâu thuẫn giữa lời nói và việc làm

Nhìn lại lịch sử quan hệ giữa 2 nước Việt Nam-Trung Quốc, người dân nhận thấy những lời nói và việc làm của phía Trung Quốc là rất mâu thuẫn. Cấp cao của Trung Quốc luôn có cử chỉ và thái độ lịch thiệp, nhã nhặn, rất hữu nghị với cấp cao của các nước liên quan, đặc biệt đối với Việt Nam luôn nhắc đến như thuộc lòng phương châm " 16 chữ " và "tinh thần 4 tốt". Còn cấp thấp của Trung Quốc thì hành xử nhiều khi quá khích, thô thiển, manh động bất chấp hậu quả, chẳng đếm xỉa gì đến tình cảm láng giềng hữu nghị. Có không ít những phát biểu trên các phương tiện thông tin đại chúng ở Trung Quốc với nội dung bịa đặt, xuyên tạc, thiếu thiện chí, mang tư tưởng sô vanh nước lớn nhằm vào các nước liên quan, nhất là Việt Nam. Có phát biểu thậm chí xúc phạm đến danh dự dân tộc Việt Nam, xúc phạm đến tình hữu nghị giữa 2 nước và gây thù hằn dân tộc.


Cáp tàu Bình Minh 02 bị tàu Trung Quốc phá hoại.
Chúng ta không bao giờ quên sự giúp đỡ to lớn của nhân dân Trung Quốc đối với nhân dân Việt Nam trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước. Chúng tôi thuộc thế hệ U 60-U70 vẫn khắc sâu trong tâm khảm tấm áp phích thời chống Mỹ đăng trên Nhân Dân Nhật Báo với lời cảnh cáo đanh thép :"Mỹ xâm phạm Việt Nam là xâm phạm Trung Quốc"!

Nhưng chúng ta cũng không quên và có quyền tự hào rằng sau hơn 1000 năm bị các triều đại phong kiến Trung Hoa đô hộ, dân tộc ta vẫn giữ được tiếng nói, vẫn tồn tại và vươn lên mạnh mẽ để đủ sức lần lượt đánh đuổi các đạo quân hùng mạnh đến từ phương Bắc. Cũng không ai có thể quên rằng xương máu của hàng triệu người dân Việt Nam đổ xuống không chỉ cho nền tự do, độc lập của Việt Nam mà còn góp phần cho cách mạng Trung Quốc, cho một Trung Quốc được như ngày nay!

Chúng ta tin rằng tư tưởng bành trướng, tham vọng lãnh thổ chỉ có ở một bộ phận nhỏ trong cộng đồng hơn 1,3 tỷ người Trung Quốc. Bởi vì chính dân tộc Trung Hoa, đại bộ phận các thế hệ người Trung Quốc đã từng là nạn nhân của tham vọng bành trướng của các thế lực nước ngoài mà trước hết là nạn nhân thường xuyên của chủ nghĩa Đại Hán.

Thế trận ở Biển Đông

Đòi hỏi của Trung Quốc về đường chữ U và biến nó thành một đòi hỏi chính thức bằng cách nộp yêu sách đến Liên hợp quốc là mối đe dọa cho hoà bình khu vực và hòa bình thế giới. Đây là đòi hỏi không dựa trên luật pháp quốc tế cho nên dự luận thế giới rất lo ngại về đòi hỏi phi lý này.

Không chỉ đòi hỏi một cách chính thức, Trung Quốc đang dùng vũ lực một cách giới hạn nhằm ngăn chặn các nước như Việt Nam và Phillipines thăm dò địa chất và đánh bắt thủy sản ở vùng đặc quyền kinh tế theo Luật Biển nhưng có chồng lấn với đường chữ U. Trung Quốc cũng ngang ngược chưa định rõ đường chữ U theo tọa độ nhất định mà chỉ nói về nó một cách mơ hồ.


Ca nô tuần tra biển của Việt Nam.
Theo binh pháp Tôn Tử, khi quân ta bằng quân địch thì chỉ nên "hòa hoãn" và "nghi binh", khi quân ta gấp đôi quân địch thì nên "bao vây" và "cô lập" đối phương, khi quân ta gấp mười lần quân địch thì mới "tấn công" chiếm thành đối phương. Thế trận ở "biển Đông", có lẽ, người Trung Quốc đang chuyển từ trạng thái "hòa hoãn" và "nghi binh" sang "bao vây" và "cô lập" đối với Việt Nam. Hành động khiêu khích ngày càng gia tăng có hệ thống và chiến lược như việc cắt dây cáp thăm dò dầu khí của Petro Việt Nam cách bờ biển Phú Yên 120 hải lý có thể xem là một thế trận bao vây đầy thử thách với khả năng đáp trả về ngoại giao và quân sự của Việt Nam. Cần có nghiên cứu sâu ở cấp chiến lược an ninh quốc gia để có nhận định thật chính xác tình hình của thế trận hiện nay.

Thương lượng: Trung Quốc muốn thương lượng song phương giữa Trung Quốc với từng nước có liên quan. Né tránh giải quyết đa phương, chỉ tìm cách giải quyết song phương để "bẻ từng cái đũa, dễ hơn bẻ cả bó đũa". Đồng thời Trung Quốc liên tục hành động ngang ngược, xâm phạm chủ quyền nước khác, gây thiệt hại cho tàu bè và công dân của nước khác. Nước ta và nhiều nước khác ở Đông Nam Á muốn thương lương đa phương. Đa phương đến đâu, với những ai, quốc tế hóa trong chừng mực và phạm vi nào, đó là những điểm phức tạp, cần cân nhắc thận trọng và nhiều khôn khéo.

Gây sự: Trung Quốc luôn tìm cách gây sự theo kiểu leo thang, thăm dò thái độ của các cường quốc khác, nhất là Mỹ, nếu thấy ổn thì leo thang tiếp.

Vũ lực : Trung Quốc đã từng dùng vũ lực để thực hiện ý đồ của mình, và sẵn sàng dùng vũ lực như thế, mạnh hơn, rộng hơn, với nhận định rằng họ có thể làm chớp nhoáng, đạt mục đích, tạo "chuyện đã rồi", trước khi bất cứ nước nào, kể cả Mỹ, có thể phản ứng gì. Chuẩn bị ứng phó với hành động vũ lực này là rất cần thiết và rất không dễ dàng.

Việt Nam cần phải làm gì? Làm như thế nào?

Đối sách của chúng ta cần ghi nhớ lời Hồ Chủ Tịch đã dạy: "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" trên tinh thần chủ động, sẵn sàng cho mọi tình huống. Các bài học lịch sử đã cho thấy dù chúng ta có nín nhịn cũng chẳng thể được yên. Đã đến lúc phải mạnh mẽ và kiên quyết hơn trên mặt trận pháp lý, ngoại giao.


Tàu chiến Gepard 3.9 tập trận bắn đạn thật trên biển Baltic. Đây là loại tàu chiến mới nhất quân đội VIệt Nam vừa mua của nga.
Về pháp lý, chuẩn bị tích cực và đầy đủ hơn chứng cứ về chủ quyền biển đảo. Về ngoại giao Việt Nam cần kiên quyết cảnh cáo hành vi xâm phạm chủ quyền quốc gia của Trung Quốc. Nên mang vấn đề này ra các diễn đàn khu vực và Liên hợp quốc. Báo chí cần được đưa tin rộng rãi hơn về âm mưu và hành động dã tâm của Trung Quốc, phản ánh dư luận xã hội, tạo nên sức mạnh bảo vệ chủ quyền của đất nước.

Cần cảnh báo cho Trung Quốc hiểu thế giới hiện tại không đơn giản chỉ có mỗi Trung Quốc là cường quốc. Họ chưa đạt mức độ 10 lần hơn đối phương để chủ nghĩa "phiêu lưu" có thể trỗi dậy mà làm một cuộc tấn công bất ngờ nhằm độc chiếm biển Đông. Ngược lại, nếu phải chiến đấu trong thế 1 chọi 10 thì nhân dân Việt Nam cũng cần hiểu rõ và biết trước tình hình để có sự chuẩn bị tốt nhất.

Cần nhận định rõ ý đồ của Trung Quốc là xác lập chủ quyền "Biển Đông" là của Trung Quốc - biển "Nam Trung Hoa" hay "vùng nước lịch sử", các quốc gia khác không được tranh chấp và Trung Quốc dứt khoát không thương lượng về chủ quyền này nhưng Trung Quốc lại nói sẵn sàng "thương lượng" để cùng nhau khai thác!!!

Việt Nam cần quyết liệt chuyển thông điệp cho Trung Quốc hiểu rõ chính sách ngoại giao của Việt Nam là "chung sống hòa bình" và tầm vóc của một cường quốc còn nằm ở khả năng phát triển một cách nhân bản, vị nhân sinh, chứ không phải ở khả năng mở rộng xâm chiếm lãnh thổ của quốc gia khác. Một cuộc tấn công quân sự vào lúc này là "phiêu lưu" và có thể gây chia rẽ bên trong và tàn phá các quyền lợi của đất nước Trung Quốc , thậm chí sự phiêu lưu hay manh động này có thể làm Trung Quốc vỡ ra nhiều mảnh nếu các cường quốc khác tận dụng cơ hội để "tọa sơn quan hổ đấu" hay "mượn gió bẻ măng" không có lợi cho một nước Trung Quốc đang khao khát phát triển.

Việt Nam và các nước có quyền lợi cần dấy lên một phong trào quốc tế vì hòa bình ở biển Đông Nam Á, chống đường chữ U phi lý của Trung Quốc giống như phong trào đòi Mỹ rút khỏi Việt Nam và chấm dứt chiến tranh xâm lược trước đây. Cần có các liên minh, liên kết với các quốc gia gần xa để tạo thế trận "hợp tung" hay "liên hoành" và tích cực tạo dựng nội lực quốc gia thực sự cả về kinh tế, chính trị và quân sự để chứng tỏ với Trung Quốc rằng đất nước Việt Nam này có đủ ý chí và năng lực chiến đấu bảo vệ tổ quốc.

"Không chấp nhận nền hòa bình lệ thuộc"

"....Hòa bình của chúng ta không phải là cầu hòa, Việt Nam không chấp nhận hòa bình lệ thuộc. Khi ta đã làm tất cả những gì có thể để gìn giữ hòa bình mà nước khác cứ muốn xâm hại lợi ích của đất nước ta thì lúc đó, thế của ta sẽ như cánh cung kéo hết, đã buông dây cung thì đó là sức mạnh vô cùng to lớn của cả dân tộc để bảo vệ Tổ quốc mình".

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng

Cũng cần truyền thông và tăng cường giải thích với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, khối ASEAN rằng nếu chia rẽ sẽ dễ bị "bắt nạt" và bẻ gãy dễ dàng. Cuộc cờ ai thắng lợi chưa hẳn do đông quân hay đông dân mà còn tùy thuộc vào khả năng huy động các "tinh binh" hay đội quân tinh nhuệ và thiện chiến nhất vào đúng lúc và đúng các vị trí chiến lược.

Cần rà soát lại, xây dựng tài lực, nội lực đủ mạnh. Cần nỗ lực hơn nữa trong việc xây dựng hải quân nhằm chống lại các hành động đe dọa của Trung Quốc. Củng cố khối đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng lực lượng, phát huy sức mạnh của chính mình để bảo vệ tổ quốc. Hòa giải, hòa hợp dân tộc để các nhân sĩ trí thức người Việt ở các nước và nhất là những người am hiểu luật pháp quốc tế trải lòng giúp đỡ Việt Nam. Người dân cần được biểu lộ thái độ đối với Bắc Kinh, đó chính là sức mạnh, chỗ dựa vững chắc cho những người có trách nhiệm điều hành quản lý đất nước.

Về tên của biển Đông do nước ta đặt, lấy nước ta làm chuẩn, để gọi biển phía đông nước ta là biển Đông. Trung Quốc gọi biển ấy là biền Nam Trung Hoa. Một số trí thức cho rằng ta đặt tên biển Đông không đúng, và vì thế không đạt được sự đồng tình rộng rãi, nên đề nghị gọi là biển Đông Nam Á, vừa gạt Trung Quốc ra ngoài, vừa tranh thủ được ASEAN.

Không gây sự nhưng không nhu nhược

Giống như về mọi chuyện khác, điều quyết định là phát huy nội lực của dân tộc ta, điều rất quan trọng là từ phát huy nội lực mà tranh thủ ngoại lực, và biến ngoại lực thành nội lực của dân tộc ta, đất nước ta. Có người nêu phương châm quan hệ với Trung Quốc là : "Không gây sự, nhưng không nhu nhược".

Chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là điều thiêng liêng của mỗi dân tộc. Người Việt Nam chỉ muốn biển lặng, sóng êm trên biển Đông để cùng chung hưởng hòa bình và dựng xây tổ quốc yêu dấu. Ngày 12/1/2010, trong buổi tiếp Giáo sư Joseph Nye (Mỹ), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu: "Mọi hành vi bắt nạt nước khác đã lỗi thời. Bất kỳ quốc gia nào muốn đứng trên bắt nạt dân tộc khác thì thời đại này cũng khó thực hiện được và không có lợi cho bất kỳ ai".

Quốc hội khóa 13 đang chuẩn bị phiên họp đầu tiên để thảo luận, bầu những chức danh chủ chốt quản lý lãnh đạo đất nước. Người dân mong các vị công bộc của dân hiểu rằng không ai dại, mạo hiểm tấn công vào một thành trì vững chắc, không quốc gia nào dám tấn công vào một quốc gia dân tộc đoàn kết và chiến đấu vì chính nghĩa, một quốc gia có những người dân sẵn sàng "quyết tử cho tổ quốc quyết sinh". Ngược lại, nếu một quốc gia không biết xây dựng và huy động nguồn lực đoàn kết toàn dân tộc, không thể khơi dậy lòng yêu nước và tinh thần xả thân bảo vệ tổ quốc, các công dân đều bị chia rẽ và thờ ơ với cái chung hay vô cảm với các nỗi đau chung của đất nước dân tộc, các nguy cơ mất nước như "trẻ không kính già, trò không trọng thầy, binh kiêu tướng thoái, tham nhũng tràn lan và sĩ phu ngoảnh mặt - Lê Quý Đôn" xuất hiện ngày càng nhiều thì kẻ thù chỉ cần đến trước ngõ và không mất nhiều mũi tên hòn đạn để thôn tính quốc gia đó.

Chúng ta thật lòng mong muốn có một nước Trung Quốc láng giềng giầu có, lớn mạnh nhưng thân thiện cùng hợp tác phát triển. Chúng ta mong muốn Thái Bình Dương trong đó có biển Đông thực sự "thái bình" nhưng đồng thời, không thể không suy nghĩ và cảnh giác về những ý kiến cảnh báo đang xuất hiện trên thế giới về một nguy cơ Trung Quốc nhất là khi Trung Quốc đang làm nổi sóng ở biển Đông!

Ngành hàng không Việt Nam thua lỗ đến bao giờ?

Tác giả: TRẦN ĐÌNH BÁ
Bài đã được xuất bản trên VietnamNet

Đã đến lúc cần phải có một sự đổi mới đột phá ngay trong ngành hàng không Việt Nam (HKVN), để đoạn tuyệt với cơ chế cửa quyền và quan liêu bao cấp, để HKVN thực sự đổi mới và hội nhập, xứng tầm với một quốc gia có vị trí và tầm quan trọng trong khu vực và trên trường quốc tế.

LTS: Làm sao cải thiện được vị thế cho ngành hàng không VN, góp phần giảm thiểu quá tải và tai nạn giao thông trên đường bộ, mới đây, TS Trần Đình Bá- Hội kinh tế & vận tải ĐSVN; Hội Khoa học & kinh tế VN đã có bài viết gửi Tuần Việt Nam. Để rộng đường dư luận, tôn trọng tính thông tin đa chiều, Tuần Việt Nam chúng tôi xin đăng tải bài viết này. Rất mong quý bạn đọc gần xa có nhiều bài viết, ý kiến trao đổi với tác giả về vấn đề này.

Do hoạt động trên cao không bị chia cắt về sông núi, biển cả nên quy luật kinh tế đặc thù tối ưu của ngành hàng không là "đường thẳng nối hai điểm vận tải". Vậy nhưng hàng chục năm nay, Cục Hàng không VN làm trái quy luật đó khi "trói chặt" các hãng HK hoạt động ở Việt Nam bay lòng vòng trong "vườn nhà", để lại sự thua lỗ và không ít sự tụt hậu.

Từ "lãi ròng" sang "lỗ ròng"?

Năm 2009, độc giả cả nước rất chú ý tới sáng kiến "đường bay thẳng HN-TPHCM" do cựu phi công Mai Trọng Tuấn đề xuất, được dư luận xã hội tôn vinh là "đường bay Vàng" và đã được Thủ tướng quan tâm chỉ đạo thực hiện.

Vậy nhưng lãnh đạo Cục HKVN đã tính bài toán hiệu quả kinh tế đường bay rồi kết luận rằng "đường bay thẳng Hà Nội - TP HCM chỉ tiết kiệm được 42 km và 2 phút rưỡi bay nên không kinh tế" và thẳng thừng từ chối sáng kiến này.

Trong khi, khi so sánh hiệu quả kinh tế trên một đường đi vòng với một đường đi thẳng chúng ta sẽ phải đưa về một hệ quy chiếu để so sánh và tìm được giá trị thực của nó bằng một bài toán cao cấp, chứ không thể là một bài toán số học.

Thật đáng buồn khi Việt Nam có gần một trăm giáo sư tiến sỹ ở Học viện HKVN, Cục HKVN, Viện quy hoạch Bộ GTVT nhưng lại không tính nổi bài toán hiệu quả kinh tế đường bay, mà phải đi mua phần mềm tính toán của nước ngoài.

So sánh hiệu quả kinh tế phải tính bằng tỷ lệ % giữa công có ích so với công toàn phần. Công trên đường bay chuyển hướng nhiều lần phải được được tính bằng tích phân đường theo cơ học cổ điển của Newton.


"Hệ quả từ tích vô hướng" là một phương pháp để đưa các đoạn thẳng có phương, có hướng khác nhau quy đổi về một hệ quy chiếu để so sánh. Đường bay Hà Nội - TP HCM theo đường thẳng chỉ là 1140 km, thế nhưng khi phải đi qua Đà Nẵng theo phương vuông góc là 416 km, gọi là công vô ích, làm mất đi 26,2 % chi phí sản xuất.

Như vậy mỗi chuyến bay lãng phí bình quân trên 4000 USD. Đường bay Huế- TP HCM chỉ 630 km, lãng phí theo phương vuông góc 242km mất 27,8%, đường bay Đà Nẵng- TP HCM chỉ 602 km, lãng phí 180 km mất 23,1%. Đường bay Hà Nội- Cần Thơ chỉ 1217 km, lãng phí 474 km mất 28,1% ...

Đó lại là những đường bay có tần suất cao nhất nên đã gây nên sự lãng phí lớn về chi phí sản xuất bao gồm xăng dầu, thời gian thuê máy bay, thuê phi công.

Hãng HK Indo China Alines (ICA) kinh doanh thua lỗ và có nguy cơ phá sản

Toàn bộ 23 tuyến đường bay nội địa tại VN thì đã có 19 đường bay vòng, lãng phí bình quân hơn 25% chi phí sản xuất. Khi mà các ngành kinh tế kinh doanh hay sản xuất lãi ròng chỉ đạt khoảng 8-10% chi phí sản xuất, thì sự lãng phí hơn 25% chi phí sản xuất, đã chuyển đáp số bài toán kinh doanh vận tải hàng không từ "lãi ròng" sang "lỗ ròng" bình quân 25% -10%= 15%.

Nhiều chuyên gia hàng không kỳ cựu đã phải nói: "Hàng không nội địa tại VN chưa bao giờ có lãi!", nhưng họ lại không đi tìm nguyên nhân. Trong 5 hãng Hàng không hoạt động tại VN thì Indochina Alines (ICA) chỉ mới hoạt động trong 1 năm đã lỗ tới 50 tỷ đồng đành phải ngừng bay.

Hãng Jetstar Pacific Airlines (JPA) càng bay nhiều càng lỗ, bình quân mỗi tháng lỗ 2 triệu USD là phù hợp tuyến tính so với tỷ lệ "lỗ ròng" 15% đó và đang đối mặt với nguy cơ phá sản. Hãng HK Vietjet (VJA) được cấp phép từ nhiều năm nhưng không dám bay vì sợ thua lỗ như ICA và JPA.

HK quốc gia VNA được cho là "có lãi" do lấy được đường bay quốc tế đường dài có hiệu quả cao hơn để bù lại cho các đường bay nội địa. Với đường bay nội địa để không bị lỗ, VNA phải móc từ túi tiền của hành khách với giá vé lúc nào cũng cao ngất, cao hơn nhiều so với giá vé các hãng ICA, JPA...

Tất nhiên thiệt hại nặng nề đó thuộc về các công chức và các doanh nghiệp Nhà nước thường xuyên sử dụng dịch vụ VNA và "trăm dâu đổ đầu tằm"- ngân sách Nhà nước phải gánh.

Bay vòng và tư duy "gà què..."

Tại cuộc họp "Đường bay Vàng" ngày 9/7/2009, Cục phó Lại Xuân Thanh đã phát biểu: "Bay qua bầu trời Lào và Campuchia sẽ không đảm bảo an ninh... Các đường bay nội địa ở VN phải được duy trì trong lãnh thổ để thực hiện quyền kiểm soát điều hành".

Tư duy "bay trong vườn nhà" đang thực sự trở thành vòng kim cô trói chặt các hãng HK nước ta trong vòng luẩn quẩn gây lãng phí và thua lỗ. Bởi đường bay thẳng xuyên qua 3 nước Việt Nam- Lào- Campuchia từ Đà Nẵng đến Stungcheng (CPC) đã thực hiện từ những thập kỷ 80 của thế kỷ trước đều an toàn tuyệt đối, nay lại có thêm đường bay Hà Nội- Pakse (Lào) thường xuyên hoạt động.

Với đường bay lòng vòng trong lãnh thổ, Nhà nước hoàn toàn thất thu thuế tài nguyên, còn các hãng HK phải chịu thua lỗ do lãng phí tới 25% chi phí sản xuất.

Cơ chế "trói" này góp phần gây thất thoát mỗi năm trên 30 triệu USD tiền thuế tài nguyên không gian, kèm theo đó là hơn 70 triệu USD do lãng phí về nhiên liệu, tiền thuê máy bay và phi công, khiến các hãng HK đi đến thua lỗ và có nguy cơ phá sản như Indochina Alines (ICA), Jetstar Pacific Airlines (JPA), lỗ và nợ tới gần 200 triệu USD, có nguy cơ phải ngừng bay.

Tư duy "bay trong vườn nhà" đang thực sự trở thành vòng kim cô trói chặt các hãng HK nước ta trong vòng luẩn quẩn gây lãng phí và thua lỗ. Bởi đường bay thẳng xuyên qua 3 nước Việt Nam- Lào- Campuchia từ Đà Nẵng đến Stungcheng (CPC) đã thực hiện từ những thập kỷ 80 của thế kỷ trước đều an toàn tuyệt đối, nay lại có thêm đường bay Hà Nội- Pakse (Lào) thường xuyên hoạt động.

Với đường bay lòng vòng trong lãnh thổ, Nhà nước hoàn toàn thất thu thuế tài nguyên, còn các hãng HK phải chịu thua lỗ do lãng phí tới 25% chi phí sản xuất.

Còn 12 triệu "thượng đế"/ năm, mỗi chuyến bay, bay bình quân mất mất ¼ thời gian và mất ¼ giá trị tấm vé do bay lòng vòng. Hãng HK JPA có 70% vốn điều lệ Nhà nước mà chỉ có duy nhất có 1 phi công VN nhưng lại là lái phụ. Hãng HK quốc gia VNA muốn sắm thêm máy bay cũng phải đi vay nợ nước ngoài nhờ Chính phủ bảo lãnh.

VN đã có Luật HK VN, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư... và Chính phủ VN đã ký hiệp định tham gia "Bầu trời mở rộng" để tiết kiệm nhiên liệu, thời gian và khai thác tài nguyên không gian hợp lý làm giàu cho mỗi nước. Vậy mà Cục HKVN hiện nay đang trói chặt các doanh nghiệp là các hãng HK trong tư duy "gà què"...

Bởi thế cho nên một nước gần 90 triệu dân, có cơ sở hạ tầng tốt nhất ASEAN với 50 sân bay, trong đó có 9 sân bay quốc tế hiện đại, mà chỉ đạt khoảng 12 triệu hành khách/năm, thua xa Singapore, nước có dân số chỉ 3 triệu dân và duy nhất chỉ có 1 sân bay. Chất lượng phục vụ của các hãng HKVN thì thua xa cả HK Lào, đó là một điều đáng hổ thẹn.

Sự thua lỗ và tụt hậu này có phần trách nhiệm từ cơ quan quản lý Nhà nước, đó là Cục HKVN.

Nhớ lại đêm trước của thời kỳ Đổi mới (1986) Giám đốc Hoàng Việt- nhân vật chính trong vở kịch nổi tiếng "Tôi và chúng ta" đã nói một câu đáng suy nghĩ: "Cứ trói chúng tôi lại rồi ném xuống sông thì làm sao bơi được..."". Câu nói này cũng phản ảnh đúng việc làm cửa quyền, quan liêu, bao cấp theo cơ chế "xin- cho", tồn tại thịnh hành ngay trong Cục HKVN hiện nay.

Hoạt động HK là cực kỳ quan trọng phản ảnh vị thế về chính trị, tiềm năng kinh tế, sức mạnh quốc phòng- an ninh, phản ảnh trình độ văn minh của một quốc gia. Đã đến lúc cần phải có một sự đổi mới đột phá ngay trong ngành HKVN, để đoạn tuyệt với cơ chế cửa quyền và quan liêu bao cấp, để HKVN thực sự đổi mới và hội nhập, xứng tầm với một quốc gia có vị trí và tầm quan trọng trong khu vực và trên trường quốc tế.

Bảng hiệu kinh tế đường bay nội địa tại VN theo "Phương pháp TĐB" cho thấy sự lãng phí rất lớn do cơ chế "trói" hiện nay:

Tuyến bay

Chiều dài đường bay thẳng qua 2 điểm ( km )

Quãng đường lãng phí

(km )

Hiệu quả kinh tế

(tỷ lệ % so với chi phí sản xuất)

Lãng phí kinh tế

(tỷ lệ % so với chi phí sản xuất)

Hà Nội - TP Hồ Chí Minh

1140

416

73,2%

26,8%

Hà Nội - Pleiku

812

52

93,9%

16,1%

Hà Nội - Đà Lạt

1031

174

85,5%

14,5%

Hà Nội - Buôn Ma Thuột

948

94

90,9%

9,1%

Hà Nội - Cần Thơ

1217

474

71,9%

28,1%

Hà Nội - Phú Quốc

1215

766

61,3%

38,7%

TP Hồ Chí Minh - Vinh

873

390

69,1%

30,9%

TP Hồ Chí Minh - Hải Phòng

1099

312

77,8%

22,2%

TP Hồ Chí Minh - Đồng Hới

733

316

69.8%

30.2%

TP Hồ Chí Minh - Huế

630

242

72,2%

27,8%

TP Hồ Chí Minh - Đà Nẵng

602

180

76,9%

23,1%

TP Hồ Chí Minh - Nha Trang

309

52

85,5%

14,5%

TP Hồ Chí Minh - Cam Ranh

298

42

89,6%

10,4%

TP HCM - Buôn Ma Thuột

255

82

75,6%

24,4%

TP Hồ Chí Minh - Pleiku

379

96

79,7%

20,3%

TP Hồ Chí Minh - Chu Lai

547

98

84,8%

15,2%

TP Hồ Chí Minh - Đà Lạt

227

54

80,0%

20,0%

TP Hồ Chí Minh - Phú Yên

374

66

85,0%

15,0%

Cộng

13913

4488

75,6%

24,4%

Hiệu quả bình quân trên tất cả các đường bay ở VN chỉ đạt 75,6 %, thiệt hại kinh tế 24,4 % (tỷ lệ lãng phí gần 1/4).