Thứ Tư, 8 tháng 6, 2011

Chiến lược phòng thủ chủ động của Trung Quốc (Phần 3): Chiến lược phòng thủ chủ động và chống thâm nhập của Trung Quốc

Bài đã được đăng trên Itimes.vn

Giới quan sát và các nhà chiến lược Mỹ đã khái quát hóa chiến lược phòng thủ chủ động của Trung Quốc là chiến lược chống thâm nhập và từ chối khu vực, coi đây là chiến lược bao trùm một phạm vi rộng lớn tư duy chiến lược của nước này.
Bài phát biểu của Oriana Skylar Mastro, Đại học Princeton, New Jersey


Các trụ cột chính trong Chiến lược phòng thủ chủ động của Trung Quốc

Khái niệm “phòng thủ chủ động” xuất hiện trong “Cương lĩnh quân sự quốc gia cho thời đại mới” của Trung Quốc. Về cơ bản, đây là những nguyên tắc và định hướng tổng quan phục vụ việc hoạch định và quản lý quá trình phát triển các lực lượng vũ trang Trung Quốc. Phòng thủ chủ động là một quan điểm thực tiễn trong số những nguyên tắc đó, cho rằng Trung Quốc sẽ chỉ tham chiến để bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước mình. Dưới ánh sáng của những nguyên tắc định hướng này, Trung Quốc đang trang bị các khả năng nhằm chống lại, từ chối, phá hủy và làm chậm lại tốc độ triển khai các lực lượng Mỹ tới chiến trường khi xảy ra xung đột. Bởi vậy, giới quan sát và các nhà chiến lược Mỹ đã khái quát hóa chiến lược phòng thủ chủ động của Trung Quốc là chiến lược chống thâm nhập và từ chối khu vực. Như vậy có thể nói rằng chiến lược phòng thủ chủ động của Trung Quốc bao trùm một phạm vi rộng lớn tư duy chiến lược của nước này.

Chiến lược này được khái quát thành 4 trụ cột chính:

Thứ nhất, về mặt chính trị: Khai thác các điểm yếu hiện hữu về sự hậu thuẫn chính trị và quyết tâm của các nước đồng minh, bạn bè của Mỹ để giữ Mỹ bên ngoài vùng xung đột.

Thứ hai, về mặt địa lý: Gia tăng khoảng cách và thời gian cần thiết để Mỹ huy động lực lượng đến vùng tác chiến.

Thứ ba, về mặt quân sự: Làm suy giảm khả năng quân đội Mỹ tiếp cận vào các môi trường chống thâm nhập.

Thứ tư là tự kiềm chế: Làm cho sự dính líu phải trả một giá đắt tới mức Mỹ không tham gia vào xung đột.

Từ nhiều năm nay, các chuyên gia phân tích Mỹ thường tập trung chủ yếu vào hai khía cạnh là địa lý và quân sự của chiến lược chống thâm nhập. Về trụ cột địa lý, việc các bài viết của Trung Quốc đều tập trung vào chủ đề tấn công mạng cũng như vụ thử nghiệm vũ khí chống vệ tinh năm 2007 là những dấu hiệu ám chỉ việc tăng cường khả năng làm hạn chế thời gian các lượng Mỹ can dự.

Các nội dung của trụ cột quân sự cũng đã thay đổi trong những năm gần đây. Năm năm trước, có thể Trung Quốc chỉ tập trung áp dụng chiến lược phi đối xứng vào điểm nóng Đài Loan, nhưng dường như họ đang mở rộng logic này sang các xung đột tiềm tàng ở các vùng biển phía Nam và Đông Trung Quốc. Một sự thay đổi lớn nữa trong trụ cột quân sự là tầm với quân sự. PLA hiện đã sở hữu những hệ thống được cho là có thể can dự tới các mục tiêu đối phương nằm cách bờ biển Trung Quốc 1.000 hải lý. Các tên lửa của Trung Quốc hiện nay có thể tấn công các mục tiêu bên ngoài cái mà các nhà chiến lược Trung Quốc gọi là “chuỗi đảo thứ nhất” và thậm chí có thể đe dọa cả “chuỗi đảo thứ hai”.

Các đề xuất giải pháp đối phó của Mỹ

Phản ứng hiện tại của Mỹ đối với những phát triển mới chủ yếu dựa vào triển khai các tên lửa chống tên lửa đạn đạo và phát triển các khái niệm hoạt động như “Tác chiến phối hợp không quân - hải quân” (AirSea Battle).

Nói chung, tôi đồng ý rằng Mỹ nên bảo vệ con người và tài sản trước các cuộc không kích bằng tên lửa nhưng tôi lo ngại chúng ta đang tập trung vào phạm vi quá hẹp là trụ cột quân sự và địa lý trong chiến lược đó của Trung Quốc. Việc tập trung này sẽ nảy sinh vấn đề khi thấy rằng trọng tâm của chiến lược nằm trong binh pháp của Tôn Tử: “Không cần đánh mà làm kẻ địch khuất phục mới gọi là sáng suốt nhất trong sự sáng suốt”. Câu nói này cho thấy một thực tế rất cơ bản: Đối phó với quá trình hiện đại hóa quân đội của Trung Quốc bằng trang bị thêm máy bay, tàu chiến, vụ khí mới, thậm chí áp dụng những khái niệm tác chiến mới như tác chiến phối hợp không quân - hải quân (AirSea Battle) là cần thiết nhưng những yếu tố đó chưa đủ để giải quyết trụ cột chính trị và trụ cột tự kiềm chế trong chiến lược của Trung Quốc.

Không quá khi nói rằng đây là hai trụ cột quan trọng nhất xét tới thực tế rằng Trung Quốc sẵn sàng chấp nhận thất bại quân sự nếu họ có thể đạt được các mục tiêu chính trị.

Chúng ta phải chấp nhận một thực tế rằng khi xung đột xảy ra với Trung Quốc, chúng ta sẽ không thể nào bảo vệ được hết các lực lượng Mỹ và tránh tổn thương cho họ. Các không gian toàn cầu sẽ vẫn tiếp tục là một môi trường cạnh tranh khốc liệt bất chấp chúng ta có khả năng chống lại các vũ khí và phương tiện mới của Trung Quốc. Chúng ta phải xác định liệu có sẵn sàng hành động trong một môi trường có tính de dọa cao, đặc biệt trong trường hợp xảy ra khiêu khích cấp độ thấp, hay sẽ không chấp nhận rủi ro và rồi rút khỏi cuộc chơi.

Tôi đề xuất các giải pháp, được gọi là các hành động cân bằng:

Hành động cân bằng thứ nhất: Nước Mỹ cần phải học cách chấp nhận rủi ro mà không liều lĩnh. Trung Quốc quá thành thục trong việc làm giảm sút sự tín nhiệm của Mỹ thông qua chiến lược ngoại giao. Rõ ràng Trung Quốc đang mang lại rủi ro cho khu vực, những cố gắng giảm bớt nguy cơ leo thang, dù là một cố gắng cần thiết của Mỹ, nhưng chắc chắn sẽ không mang lại một sự thay đổi đáng kể nào trong cách hành xử của Trung Quốc.

Hành động cân bằng thứ hai: Chấp nhận khả năng leo thang ở một mức độ nào đó trong khi thúc đẩy được sự ổn định. Để chứng tỏ cho Trung Quốc thấy Mỹ không phải không tham gia một cuộc xung đột, chúng ta phải chuyển tải thông điện rằng, dưới những điều kiện nhất định, Mỹ sẵn sàng leo thang tới các cấp độ cao hơn của những cuộc xung đột. Dường như điều đó có vẻ không mấy hợp lý, tuy nhiên, khi nào nhận thấy một mối đe dọa có thể leo thang thì Mỹ sẽ ngăn không để xảy ra xung đột vũ trang trước khi nó bùng nổ, hoặc ít nhất cũng giữ ở cấp độ có thể chấp nhận được.

Nước Mỹ cần phải đảm bảo rằng các nỗ lực làm tăng khả năng sống sót của lực lượng Mỹ không nuôi dưỡng nỗ lực của Trung Quốc hạn chế quyền tiếp cận chính trị của chúng ta. Ví dụ: nếu phản ứng của chúng ta trước một môi trường bị đe dọa là bố trí binh lực và phương tiện ra xa vùng tác chiến, mặc dù hành động này có thể làm giảm trụ cột quân sự của Trung Quốc, nhưng lại khiến các nước nghi ngờ về cam kết của chúng ta với khu vực. Tuy nhiên, nếu giữ quan điểm cứng rắn, nghĩa là tăng sự hiện diện quân sự một cách rõ ràng, và như vậy tăng nguy cơ tổn thương, thì Trung Quốc sẽ phản ứng mạnh mẽ bằng cách trừng phạt các đối tác và đồng minh của Mỹ, mà trong số đó nhiều nước phải phụ thuộc vào Trung Quốc như là nước đối tác thương mại hàng đầu.

Hành động cân bằng thứ ba: Can dự mà không bao vây. Các nhà chiến lược Mỹ phải xem xét lại cách thức đóng quân trong khu vực để một mặt, bảo đảm tăng cường quan hệ của Mỹ với các nước đồng minh, đối tác, đủ độ tin cậy cho Mỹ khuyếch trương sức mạnh nhưng mặt khác cũng giải quyết được mối lo ngại bị kiềm chế của Trung.

Nói tóm lại, nếu chúng ta muốn chống lại chiến lược phòng thủ chủ động của Trung Quốc thì cùng với các công nghệ mới, phương tiện tác chiến mới và lý luận xung đột mới, thì Mỹ cần phải chấp nhận một mức độ rủi ro mà không liều lĩnh, cho phép một khả năng leo thang nhất định trong khi vẫn giữ được ổn định và thúc đẩy sự can dự mà không bao vây. Như Herry Kissinger từng viết trên tờ Washington Post: “Tránh xung đột nghĩa là hỗ trợ các khát vọng quốc gia đạt được tầm nhìn về một trật tự toàn cầu”./.

Còn tiếp...

Anh Minh (Theo USCC)

Chủ Nhật, 5 tháng 6, 2011

Sóng Biển Đông trong tâm hồn Việt Nam


Hòa bình và hòa hiếu không thể là sự nhân nhượng yếu hèn mà có được vì chúng ta càng nhân nhượng họ càng lấn tới. Bởi vậy, phải thường trực nuôi dưỡng và phát huy ý chí quật cường bất khuất mà ông cha ta bao đời nuôi dưỡng để biến thành vũ khí mầu nhiệm chống ngoại xâm. Kỷ niệm một trăm năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, chính là lúc đất nước với thế và lực mới càng phải khởi động sức mạnh toàn dân để bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ tổ quốc. Đó là cách thiết thực kỷ niệm và học tập bản lĩnh Hồ Chí Minh.


Tương Lai

Sóng Biển Đông lay hồn người Việt

Từ buổi ấy, “đất nước đẹp vô cùng nhưng Bác phải ra đi” để rồi “đêm xa nước đầu tiên ai nỡ ngủ, sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương” [Chế Lan Viên] , một trăm năm đã trôi qua. Và rồi hôm nay, trong tiếng “sóng quê hương” vỗ triền miên từ mũi Trà Cổ, đến Cà Mâu vòng về Kiên Giang của một đất nước thống nhất, non sông quy vào một mối, liệu Bác đã có thể ngủ yên? Liệu có còn lặp lại nỗi trằn trọc thuở nao của Bác “Một canh, hai canh, lại ba canh. … băn khoăn giấc chẳng thành, canh bốn canh năm vừa chợp mắt… thì đã phải thức giấc vì tiếng sóng từ Biển Đông giội về!

Sóng Biển Đông đang gầm gào thét gọi, lay động những tâm hồn Việt Nam chẳng thể nào ngủ yên khi chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của tổ quốc đang bị xâm phạm một cách ngang ngược.

Ở cạnh một nước láng giềng với mong muốn “tối lửa tắt đèn có nhau”, chúng ta cứ ao ước được “bên ni biên giới là mình, bên kia biên giới cũng tình anh em”. Và trong trái tim nhân dân của hai nước Việt-Trung bao đời, những người dân hiền lành, lương thiện, luôn dành chỗ cho tình hữu nghị anh em từng cưu mang cứu giúp lẫn nhau trong cơn hoạn nạn. Không phải ngẫu nhiên mà căn cứ địa thần thánh của cách mạng và kháng chiến của ta trong thế kỷ XX được xây dựng kề sát biên giới Việt Trung, và những chiến sĩ cách mạng Việt Nam đã ghi tạc vào lòng sự đùm bọc của bà con người Hoa bên kia biên giới trong những ngày đen tối của xiềng xích thực dân, đế quốc, phát xít. Cũng chính nơi đây, sau 33 năm bôn ba bốn biển năm châu tìm đường cứu nước, Bác Hồ đã dừng lại tại cột mốc biên giới để xúc động cúi hôn nắm đất quê hương.

Rồi đến hôm nay, đúng một trăm năm ngày Bác ra đi tìm đường, những cột mốc nằm suốt dải biên giới Việt Trung đã được xác định và gia cố vững chắc để khẳng định trên thực địa tính tôn nghiêm của chủ quyền lãnh thổ bất khả xâm phạm của một quốc gia. Thế nhưng cùng với việc thỏa thuận cột mốc biên giới trên bộ, thì “chiếc lưỡi bò” của mộng bành trướng với toan tính lấn chiếm lại thè ra muốn liếm trọn Biển Đông để thỏa cơn khát năng lượng của một cường quốc đang vội vã công nghiệp hóa và hiện đại hóa bằng bất cứ giá nào. Việc làm này rõ ràng đi ngược lại với nguyện vọng của nhân dân Trung Quốc anh em vốn muốn sống hòa hiếu, muốn có quan hệ tốt đẹp với Việt Nam, đi ngược lại với thiên chí của nhiều nhà lãnh đạo TQ từng có những hành động và ý nguyện thiết thực xây đắp mối quan hệ Việt – Trung thực sự tốt đẹp.

Hiện nay, một “CNXH mang đặc sắc TQ” đang tự phơi bày trước thế giới hình ảnh của một “đại bá”, nhằm thực hiện quá trình tích tụ tư bản để công nghiệp hóa, muốn thế thì phải tìm mọi cách giải quyết nhu cầu năng lượng mà theo các số liệu do Bloomberg tổng hợp, nguồn dự trữ dầu của Trung Quốc đã sụt giảm gần 40% kể từ năm 2001. Trung Quốc đứng đầu bảng về phá hoại môi trường do phát triển “quá nóng”. Để đạt mục tiêu trở thành siêu cường, họ bất chấp những hệ lụy xã hội ngày càng gay gắt. Không phải ngẫu nhiên mà vừa rồi để nhằm trấn an dư luận, tờ Nhân Dân Nhật báo của Trung Quốc đã buộc phải có bài xã luận đề cập đến “những tiếng nói bị nhấn chìm” trong xã hội, ủng hộ quyền ngôn luận, kêu gọi “cứu vớt” những tầng lớp dân chúng cảm thấy bị bỏ rơi, không được lắng nghe và không có cách nào để bày tỏ những nguyện vọng của mình.

Hành động “diễu võ dương oai” gần đây vì thế là mũi tên nhằm hai đích, vừa hù dọa các nước láng giềng vừa làm giảm áp lực nội bộ. Cho nên, cùng với sự kiên quyết giáng trả hành động xâm phạm, phải làm cho nhân dân Trung Quốc biết về những hành động ngang ngược của nhà cầm quyền của họ đối với nước láng giềng Việt Nam. Trong khi cố gắng hàn gắn và củng cố mối quan hệ song phương với Trung Quốc thì đồng thời phải làm cho cộng đồng quốc tế biết về thiện chí của ta và tính hai mặt của Trung Quốc.

Cải thiện hình ảnh Việt Nam trong long bè bạn

Điều quan trọng nhất là trong khi mở ra một mặt trận đối ngoại để tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ quốc tế, phải ra sức cải thiện hình ảnh Việt Nam trong lòng bè bạn. Để có được cái đó thì xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc theo đúng tư tưởng Hồ Chí Minh làm chỗ dựa vững chắc cho mọi giải pháp cần phải có nhằm bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc.

Việc ngang nhiên cho tàu “hải giám” [thực chất là tàu quân sự] xâm nhập vùng biển của ta để cắt cáp thăm dò dầu khí của tàu Bình Minh là một bước leo thang nhằm thực hiện ý đồ hiện thực hóa đường lưỡi bò, độc chiếm biển Đông. Cần hiểu rằng, đây chỉ là khúc nhạc dạo đầu để thăm dò thái độ của Việt Nam mà thôi. Và nếu như không có một thái độ thật cứng rắn thì từ khúc nhạc dạo đầu đó, nó sẽ là một bản “hòa tấu” quen thuộc của những lời có cánh hoa mỹ đi liền với những hành động xâm phạm trắng trợn. Đúng như sự nhận định của thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Bộ Công an ngày 31.5.2011 : “Những tuyên bố của ta là đúng lúc, thiết thực nhưng chưa đủ. Chủ quyền quốc gia là tối thượng của một dân tộc, là vĩnh cửu, là trường tồn. Không ai có quyền được mặc cả độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia mình cả… Phải nói rõ việc làm của Trung Quốc đã vi phạm gì, vi phạm đến đâu sự độc lập của chúng ta, để cho thế giới biết chúng ta không kích động chủ nghĩa dân tộc mà là tinh thần tự tôn dân tộc”.

Sức mạnh vô bờ từ lòng yêu nước Việt Nam

Lòng yêu nước gắn làm một với tinh thần tự tôn dân tộc là điểm nhạy cảm nhất trong tâm thế Việt Nam, chạm đúng vào điểm nhạy cảm ấy là một sức mạnh vô bờ được bật dậy “kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước ” như Bác Hồ đã từng phân tích. Đây chính là lúc phải biết khởi động truyền thống Việt Nam quật cường bất khuất không bao giờ chịu hèn yếu cúi đầu khuất phục cho dù kẻ thù có hung bạo đến đâu. Kinh nghiệm lịch sử đã cho thấy, chỉ giữ được hòa hiếu nếu chúng ta có đủ thực lực. Khi Nguyễn Trãi để nhằm “sửa hòa hiếu cho hai nước, tắt muôn đời chiến tranh” đã “nghĩ kế lâu dài đất nước, tha kẻ hàng mười vạn sĩ binh” [Bình Ngô đại cáo]. Mà làm được vậy vì thực lực của cuộc kháng chiến ở thế kỷ XV buổi ấy vốn đã từng “Gươm mài đá, đá núi cũng mòn; voi uống nước, nước sông phải cạn, Đánh một trận sạch không kình ngạc, đánh hai trận tan tác chim muông”.[Bình ngô đại cáo]

Cũng vì vậy, đúng một năm trước ngày toàn quốc kháng chiến 19.12.1946, Hồ Chí Minh từng căn dặn : “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to thì tiếng mới lớn”. Để có đủ thời gian gây dựng thực lực, Hồ Chí Minh đã từng khai thác bất cứ khả năng nào có thể, cho dù là nhỏ nhất, để nhân nhượng nhằm kéo dài thời kỳ hoà bình mong manh. Thế nhưng, khi buộc phải cầm súng, chúng ta biết cách phải nhằm trúng vào kẻ thù. Đó chính là bản lĩnh của Hồ Chí Minh.

Có được bản lĩnh ấy vì Hồ Chí Minh tin chắc vào sức mạnh của dân tộc mình, biết cách khởi động và đẩy tới đỉnh cao sức mạnh đó bằng đường lối đại đoàn kết dân tộc. Vũ khí vạn năng của “người Việt Nam” là lòng yêu nước và ý chí quật cường lưu truyền trong huyết quản. Chính cái đó là chất xi măng gắn kết khối đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng của dân chủ và tự do được nghiêm chỉnh thực hiện. Bởi lẽ, “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phục tự do, thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì”.

Với tấm lòng nhân hậu và trung thực, dân tộc ta vẫn mong sao “Biển sóng biển sóng đừng âm u/ Đừng nuôi trong ấy trái tim thù”, chúng ta khát khao hòa hiếu và hữu nghị với các nước láng giềng.

Tuy nhiên, hòa bình và hòa hiếu không thể là sự nhân nhượng yếu hèn mà có được vì chúng ta càng nhân nhượng họ càng lấn tới. Bởi vậy, phải thường trực nuôi dưỡng và phát huy ý chí quật cường bất khuất mà ông cha ta bao đời nuôi dưỡng để biến thành vũ khí mầu nhiệm chống ngoại xâm. Kỷ niệm một trăm năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, chính là lúc đất nước với thế và lực mới càng phải khởi động sức mạnh toàn dân để bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ Tổ quốc. Đó là cách thiết thực kỷ niệm và học tập bản lĩnh Hồ Chí Minh.

Nguồn: TVN

Kế hoạch bá chủ về kinh tế của Trung Quốc

Tác giả: THE ATLANTIC
Bài đã được xuất bản trên VietnamNet

Giới lãnh đạo Trung Quốc đã tiết lộ một chiến lược nhằm dẫn đầu thế giới trong 7 ngành công nghiệp quan trọng nhất.

Trong vài tháng qua, Bắc Kinh đã tiết lộ một số kế hoạch cho thấy tầm nhìn cho tương lai kinh tế của Trung Quốc. Bản Kế hoạch 5 năm lần thứ 12, thông qua hồi tháng Ba, và bản kế hoạch tiếp theo được Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia (DNRC) công bố cuối tháng trước cho thấy một chiến lược quốc gia có thể khiến các tập đoàn đa quốc gia phải cảnh giác và chuẩn bị sẵn sàng đối phó với sự cạnh tranh vũ bão này.

Kế hoạch chi tiết về kinh tế tập trung vào bảy "ngành công nghiệp đang nổi mang tính chiến lược" mà Bắc Kinh muốn chế ngự trên quy mô toàn cầu. Đó là năng lượng thay thế, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin thế hệ mới, sản xuất trang thiết bị đầu cuối, vật liệu tân tiến, xe ô tô sạch và các công nghệ năng lượng mới. Các công ty toàn cầu cạnh tranh mọi mặt hàng, từ thủy điện đến công nghệ màn hình phẳng, sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh mạnh hơn của Trung Quốc. Và đối với những quốc gia như Nhật Bản và Hàn Quốc, luôn hy vọng các công ty trong nước mình đi đầu trong các ngành công nghiệp này, thì các kế hoạch mới của Trung Quốc có thể khiến họ phải đưa ra những sửa đổi cần thiết về chính sách hỗ trợ cho các tập đoàn.

Theo các bản kế hoạch trên, để hỗ trợ các ngành công nghiệp chiến lược, Bắc Kinh dự định đưa ra các chính sách tài chính, thuê khóa và tiền tệ mềm dẻo, đồng thời "định hướng các công ty sáp nhập hoặc mua lại tăng cường tập trung sản xuất công nghiệp. Kế hoạch này bao gồm khoảng 1.500 tỷ USD chi tiêu công (chiếm gần 5% GDP) mỗi năm nhằm tăng phần đóng góp của các ngành công nghiệp chiến lược vào tăng trưởng của Trung Quốc từ mức dưới 5% hiện nay lên 15% vào năm 2020. Nói cách khác, Trung Quốc có kế hoạch tăng gấp ba lần vai trò của các ngành công nghệ cao này trong nền kinh tế. Đến năm 2020, Standart Chartered hy vọng, nền kinh tế Trung Quốc sẽ đạt 25.000 tỷ USD. Ở mức này, Trung Quốc dự định 3.750 tỷ USD, tương đương GDP hàng năm của Đức, sẽ do các ngành công nghiệp chiến lược đóng góp.

Đa số thành phàn tăng trưởng sẽ được thiết kế để đáp ứng nhu cầu trong nước ngày càng tăng, nhưng Trung Quốc sẽ không thể tiêu thụ tất cả những gì mình sản xuất ra. Như vậy xuất khẩu công nghệ cao sẽ chắc chắn trở thành một thành phần quan trọng trong các kế hoạch của họ. Ví dụ, sản xuất xe hơi của Trung Quốc dự kiến tăng gấp ba lần, đạt 40 triệu chiếc/năm từ năm 2020. Trong khi đó, chính phủ hiện nay đang hạn chế số giấy phép sở hữu xe mới nhằm giải quyết vấn đề giao thông quốc gia. Trung Quốc sẽ cần các thị trường nước ngoài để tiêu thụ lượng sản phẩm dư thừa của mình.

Các công ty đa quốc gia và các chính phủ nước ngoài không nên nghĩ rằng kế hoạch này là không thể thực hiện được, vì Trung Quốc có một kỷ lục đạt các mục tiêu kinh tế của mình. Theo các con số của Chính phủ Trung Quốc, Bắc Kinh đã đạt hoặc vượt hơn 80% các mục tiêu đề ra trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 11, thậm chí vượt mục tiêu tăng trưởng GDP 7,5% và giảm các chất thải gây hiệu ứng nhà kính như sulfur dioxide...

5 năm trước, Bắc Kinh cũng thông báo Kế hoạch Quốc gia trung và dài hạn về Phát triển Khoa học và Công nghệ (MLP), đặt ra một chiến lược quốc gia nhằm tăng trưởng kinh tế dựa trên các ngành công nghiệp khoa học và công nghệ. Kể từ đó, lĩnh vực năng lượng mặt trời được chính quyền trung ương trợ cấp mạnh đã nổi lên vị trí đi đầu thế giới về sản xuất tấm quang điện, chiếm tới hơn 40% thị phần toàn cầu.

Trung Quốc có cơ sở để thực hiện nhanh chóng kế hoạch của mình: một thiện chí chính trị vững vàng với các chính sách phối hợp từ trung ương, một hệ thống pháp lý và tài chính có lợi cho các sáng kiến kinh tế của chính phủ, và các nguồn lực tài chính vô cùng phong phú. Thêm vào đó, quyền sở hữu trí tuệ không được giám sát chặt đã giúp các ngành công nghiệp Trung Quốc tránh được những chi phí tốn kém cho nghiên cứu và phát triển. Theo Phòng Thương mại Mỹ, nhiều công ty đa quốc gia gọi MLP của Trung Quốc là "bản kế hoạch chi tiết cho việc ăn trộm công nghệ trên quy mô lớn mà thế giới chưa từng biết đến".

Nền kinh tế và các kế hoạch của Trung Quốc cũng phải đối mặt với những thách thức lớn: sự bố trí nguồn lực không hiệu quả, lương tăng, thiếu năng lượng, lạm phát và tình trạng quan liêu nặng nề - chẳng hạn có ít nhất 10 cơ quan khác nhau cùng giám sát thực thi các sáng kiến năng lượng. Bên cạnh đó, quá trình chuyển giao chính trị vào năm 2012 tới đây có thể dẫn tới việc thực thi chính sách không đều khi các ứng cử viên tranh giành quyền lực. Tuy nhiên, kinh tế giảm tốc sẽ khiến Bắc Kinh thúc đẩy xuất khẩu mạnh hơn.

Các kế hoạch kinh tế này không hẳn đặt dấu chấm hết cho lĩnh vực sản xuất công nghệ cao ở các nước bị cạnh tranh. Chất lượng sản phẩm là mối quan tâm lớn ở Trung Quốc. Chẳng hạn, nước này mới đây đã giảm tốc độ cho phép tối đa trên đường sắt cao tốc để đảm bảo an toàn. Một tai nạn trong hệ thống đường sắt được tán dương của Trung Quốc sẽ làm phức tạp thêm các nỗ lực của họ nhằm xuất khẩu cơ sở hạ tầng này ra các thị trường nước ngoài.

Tuy nhiên, trước đó, Trung Quốc đã an toàn vượt qua nhiều vấn đề. Ba năm trước, dù rất nhiều nước bị nhiễm độc trong thuốc pha loãng máu heparin của Trung Quốc, nhưng xuất khẩu dược phẩm của nước này vẫn bật nảy tốt. Trung Quốc giờ sản xuất hơn 70% lượng penicillin và 50% lượng aspirin bán trên toàn thế giới.

Nếu các công ty toàn cầu phải cạnh tranh với Trung Quốc trong các lĩnh vực chiến lược này, họ sẽ phải nỗ lực rất nhiều để sản xuất các sản phẩm đáng tin cậy, tiếp tục cải tiến, và duy trì bảo vệ các công nghệ độc quyền. Vì bất chấp lời kêu gọi "cải tiến bản địa", Trung Quốc sản xuất một số sản phẩm mới - như phim hay mạch công nghệ cao - và vẫn dựa vào xuất khẩu và công nghệ nước ngoài. Chính việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ không chặt chẽ và mục tiêu tập trung vào sao chép của Trung Quốc đang triệt tiêu các ý tưởng sáng tạo, khiến các công ty trong nước thường bị tụt lùi vài bước.

Trong khi đó, các chính phủ nước ngoài sẽ cần đưa ra các chính sách hỗ trợ mới cho các công ty trong nước, như Washington đã làm hồi tháng Giêng, khi cho General Electric vay 437 triệu USD để đảm bảo vị trí đầu tàu bán hàng ở Pakistan. Họ cũng nên hỗ trợ quỹ nghiên cứu và phát triển và tiếp tục khuyến khích sự phối hợp giữa giới học viện, chính phủ và doanh nghiệp. Các kế hoạch của Trung Quốc không chỉ là một lời kêu gọi tập hợp các ngành công nghiệp trong nước hướng ra nước ngoài. Đây là một lời cảnh báo đối với các công ty đa quốc gia. Trung Quốc không dừng lại ở những chiếc T-shirt hay những tấm năng lượng mặt trời. Thế giới cần phải sẵn sàng.

Châu Giang

Chiến lược Chuỗi Ngọc Trai và việc bảo vệ chủ quyền VN trên Biển Đông

Tác giả: NHÓM TÁC GIẢ QUỸ NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG*
Bài đã được xuất bản trên VietnamNet

Bài viết phân tích động thái của Trung Quốc trong thời gian gần đây, trong không gian ngoài phạm vi Biển Đông, từ đó đề xuất một số giải pháp để bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông và có tham khảo tới các giải pháp của các quốc gia khác đang tiến hành chống lại sự bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông.

LTS: Tuần Việt Nam giới thiệu bài viết của nhóm tác giả Quỹ Nghiên cứu Biển Đông Lê Vĩnh Trương, Dư Văn Toán, Nguyễn Đức Hùng, Nguyễn Trọng Bình, Đàm Quang Minh, Phạm Thu Xuân như một góc nhìn riêng để tham khảo.


Trong những năm gần đây Trung Quốc tiếp tục có những hành động xâm phạm nghiêm trọng đến vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam và của các nước khác trên Biển Đông. Trung Quốc đơn phương tuyên bố một đường phân định ranh giới trên biển không có cơ sở pháp lý và chiếm gần hết Biển Đông. Trung Quốc đơn phương cho các tàu hải giám và kiểm ngư, những tàu thuyền quân sự và cảnh sát trá hình, vào những khu vực thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam và các nước khác.

Sự kiện gần đây nhất là một đội tàu hải giám đã đi vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam ở vị trí (vĩ độ, kinh độ) nằm cách đường cơ sở của Việt Nam chưa tới 120 hải lý, phá hoại và cản trở hoạt động thăm dò địa chấn của Việt Nam. Hành động này vi phạm nghiêm trọng trọng Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS 1982) và Hiến chương liên hợp quốc.

Sự việc không chỉ ở tầm Biển Đông sát bên cạnh yết hầu kinh tế và quân sự của Việt Nam!

Sự việc nằm ở chiến lược Chuỗi Ngọc Trai đầy toan tính của Trung Quốc nhằm gia tăng sức mạnh năng lượng, kinh tế và quân sự của mình.

Không gian chiến lược này sẽ khởi đầu từ đảo Hải Nam của Trung Quốc, tiến ra đảo Phú Lâm (Hoàng Sa), và một số đảo tại quần đảo Trường Sa (của Việt Nam đang bị Trung Quốc chiếm), xuống kênh đào Kra, ôm lấy Myanmar và dừng bước tại cảng Karachi của Pakistan. Con đường trên biển này sẽ bảo đảm về mặt tiếp liệu, vận tải nhiên liệu, sản phẩm và quân đội khi cần thiết.

Bài này sẽ phân tích động thái của Trung Quốc trong thời gian gần đây, trong không gian ngoài phạm vi Biển Đông, từ đó đề xuất một số giải pháp để bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông và có tham khảo tới các giải pháp của các quốc gia khác đang tiến hành chống lại sự bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông.

Những gì đang diễn ra liên quan Trung Quốc?

Những bất ổn liên tục xảy ra tại Trung Quốc từ cuối tháng tư 2011 đến nay như cuộc đình công năm ngày của các tài xế xe tải tại Thượng hải, tiếp theo đó là các vụ đánh bom tại Giang Tây và những cuộc biểu tình tại Nội Mông.

Thời gian đó, Trung Quốc liên tục cử những phái đoàn quân sự đi ra nước ngoài trong tháng 5 năm 2011.

Ngày 26/05/2011, Trung Quốc ngang ngược cắt đứt cáp thăm dò của tàu Bình Minh 02 ngày 26/05/2011 mặc dầu đã có sự phản đối của tàu biên phòng hộ tống và chính tàu Bình Minh 02 thuộc PVN.

Bộ Ngoại giao Trung Quốc ra tuyên bố rằng họ chỉ hoạt động trên vùng biển Trung Quốc một cách ngụy biện. Vậy chúng ta phải chỉ rõ cho nhân dân toàn thế giới thấy rằng họ đã nói không đúng sự thật bằng các bản đồ và các bài viết của chúng ta.

Vào ngày 31/05/2011, 3 tàu quân sự Trung Quốc đã nổ sung uy hiếp, ngăn cản 4 tàu cá của tỉnh Phú Yên trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam. Bộ tư lệnh Bộ đội biên phòng tỉnh Phú Yên, Việt Nam đã đề nghị Bộ Ngoại giao can thiệp.

Những hành động này là một hành động có tính toán Trung Quốc để vừa giảm nhiệt trong nước vừa phục vụ ý đồ tiến xuống phía nam để phục vụ cho chiến lược Chuỗi Ngọc Trai nhằm khống chế cả Biển Đông và Ấn Độ Dương.

Do những nhu cầu bức thiết trên, Trung Quốc đã tạm thời hy sinh hình ảnh phát triển hòa bình để lấn xuống biển Đông một cách mạnh bạo. Không phải Trung Quốc không biết rằng họ đang đứng trên luật pháp quốc tế, nhưng họ đang tận dụng thời cơ hiện tại bên ngoài và giải quyết những bất ổn nội bộ để đi nhanh hơn trên con đường bá quyền của mình.

Trung Quốc liên tục tác động đến Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar để phá vỡ nguyên tắc đồng thuận phát ngôn của ASEAN, mặt khác luôn muốn trói các nước trong tranh chấp biển Đông vào "khung giải quyết" là "thương lượng song phương" cho một vấn đề quốc tế. Trước hội nghị thượng đỉnh Trung Quốc - ASEAN vào tháng 10/2009 tại Huahin (Thailand), bà Tiết Hán Cần, đại sứ Trung Quốc tại ASEAN đã phát biểu: "Trung Quốc cho rằng đây là bất đồng giữa Trung Quốc và các nước riêng rẽ xung quanh Biển Đông, chứ không phải giữa Trung Quốc và Asean... Và bà cũng nói thêm: "Cuộc họp này của ASEAN phải là trong khuôn khổ hợp tác, chứ không phải là để tranh cãi". Đây là động tác hạn chế người khác nói, còn chính Trung Quốc thì vừa nói vừa hành động thô bạo.

Sau tuyên bố tại Hội nghị ARF tháng 7/2010 của Ngoại trưởng H. Clinton, Trung Quốc đã phản ứng quyết liệt. Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì cho rằng phát biểu của Ngoại trưởng Mỹ là "Đưa vấn đề song phương thành vấn đề quốc tế, hoặc đa phương sẽ chỉ làm trầm trọng thêm tình hình và gây thêm khó khăn trong việc giải quyết vấn đề này". Đây chỉ là một ngụy biện nhằm bẻ đũa từng chiếc.

Tháng 11/2010, Việt Nam đã tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế về biển Đông lần 2, Hội thảo này là cơ hội cho Việt Nam để tìm kiếm những tiếng nói đa phương cho việc giải quyết tranh chấp. Trong Hội nghị có tính cách kênh hai lần này Trung Quốc đã làm giảm nhẹ tuyên bố "lợi ích cốt lõi" của mình. Tuy nhiên, việc không khẳng định và không phủ nhận tuyên bố vô lý này cho thấy ASEAN, Ấn Độ và thế giới cần cảnh giác cao hơn nữa.

Như tác giả Dương Danh Huy đã nhận xét , đây không phải hành động đầu tiên và không phải cuối cùng tại biển Đông. Chúng tôi bổ sung, những hành động này sẽ không chỉ xảy ra trên biển Đông và biển Nhật Bản mà sẽ sắp sửa xảy ra tại Ấn Độ Dương và các vùng nước khác trong tương lai rất gần.
Ngẫu nhiên không may mắn cho Việt Nam là ở ngay tâm điểm của chiến lược Chuỗi Ngọc Trai của Trung Quốc, tuy nhiên nếu chúng ta biết vận động sâu rộng đến nhân dân và chính phủ các nước ASEAN, Ấn Độ, Bangladesh và cả Pakistan, Afganistan, thì nguy cơ có thể sẽ biến thành cơ hội.

Việt Nam chúng ta sẽ cô độc nếu chỉ dừng sự đấu tranh tại biển Đông mà không mở rộng sang các nước vẫn đang nắm tình hình nhưng trù trừ không lên tiếng như ASEAN và cả Mỹ và Ấn Độ.

Những biện pháp bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông

Về Ngoại Giao

Ngoại giao nhân dân: Phổ biến thông tin về sự ngang ngược của Trung Quốc đến tất cả các tầng lớp nhân dân, hội đoàn dân sự trong một chiến lược lâu dài bằng tiếng Việt và nhiều thứ tiếng khác. Những hoạt động khoa học, văn hóa thể thao của Việt Nam tại các nơi trên thế giới sẽ được bổ sung nội dung bị ức hiếp của ngư dân và các công ty Việt Nam. Trong đó nêu bật thái độ bất chấp UNCLOS 1982 và DOC 2002 của Trung Quốc.

Không giới hạn công việc bảo vệ chủ quyền quốc gia chỉ tại trong nước mà cần phải có một sự vận động sâu rộng có tầm mức quốc tế. Không giới hạn việc tác động đến chính giới mà còn mở rộng ra đông đảo các tầng lớp nhân dân và học giả Trung Quốc bằng truyền thông và ngoại giao kênh hai.

Về sức mạnh tổng hợp:

- Trong đánh bắt và khai thác hải sản, Trung Quốc dùng chiêu bài hải giám và ngư chính để ngụy trang cho các hành động bạo lực của mình. Vậy Việt Nam cũng cần có những đội tàu dân sự nhưng được trang bị đủ sức mạnh để phản ứng lại tàu dân sự giả hiệu của Trung Quốc.

- Chiến lược biển của Việt Nam sẽ không tách rời các hoạt động hợp tác xây dựng các khu bảo tồn thiên nhiên, sinh thái hay công viên đại dương xuyên quốc gia với láng giềng.Và nếu cần thì các công tác khảo sát địa chấn và thềm lục địa có thể thuê các công ty nước ngoài kết hợp thực hiện. Cần có một bộ có đủ chức năng liên ngành để lo việc bảo vệ chủ quyền và phát triển và khai thác biển.

- Ðẩy mạnh và nhanh cùng quyết tâm hơn nữa trong việc hiện đại hoá nền kinh tế, quân sự, vũ trang toàn dân song song với việc tổ chức một xã hội và nền chính trị hiện đạị, tạo ra một sức mạnh vững chắc và đầy đủ thế và lực trên trường quốc tế, đủ sức đối phó với nước xâm lấn.

- Kiên quyết hơn trong sử dụng sức mạnh răn đe, nếu chúng ta chưa đủ sức mạnh như Nhật Bản để bắt giữ tàu Trung Quốc thì Việt Nam cũng phải có khả năng dùng máy bay chiến đấu để xua đuổi tàu Trung Quốc vi phạm chủ quyền như Philippines đã từng thực hiện..

- Nhanh chóng và dài hạn thực hiện một chiến lược liên kết toàn cầu, nhất là với các cường quốc kinh tế và quân sự với sách lược từng vùng, từng giai đoạn để tự phá vỡ vòng vây ngày càng thắt chặt này. Việc vận động nhân dân và chính phủ của các đất nước nằm trong Chuỗi Ngọc Trai sẽ do một cơ quan chuyên trách của Chính phủ thực hiện cùng với sự đóng góp ý kiến của người dân Việt Nam. Cảnh báo cho nhân dân thế giới và nhân dân Ấn Độ về những tham vọng này của Trung Quốc cũng sẽ là một phần của ngoại giao nhân dân.

Kết luận

Tất cả những giải pháp đều có những mặt cần phải bổ sung và chuyển hướng chiến lược nhanh, đáp ứng, phản công kịp thời với sự biến động những biến động của tình thế. Để có một tổng thể các giải pháp, cần có một sự động não toàn dân, vận động toàn dân cùng sức người sức của khắp nơi trên thế giới.

Sự "trỗi dậy" của Trung Quốc và sự bộc lộ tham vọng to lớn của họ qua chiến lược Chuỗi Ngọc Trai chứng tỏ họ đã bỏ qua giai đoạn giấu mình chờ thời khiến cả thế giới lo ngại, không chỉ ASEAN, và Ấn Độ mà Mỹ, Nhật Bản và các nước có lợi ích trong giao thông hàng hải trên toàn thế giới.

Thực chất của tình trạng căng thẳng trên biển Đông, dẫn đến cuộc chiến về hoạt động đối ngoại vừa qua chính là việc Trung Quốc muốn gia tăng ảnh hưởng lên khu vực, đè bẹp các nước ASEAN, thăm dò phản ứng của Mỹ và Ấn Độ.

Do vậy, việc Trung Quốc sử dụng vũ lực hay không một phần cũng sẽ do các nước có thái độ nhân nhượng quá đáng hay không và người Mỹ người Ấn có thực hiện đúng tư thế của những nước có lợi ích quốc gia về hàng hải hay không.

-----------------------
* Nhóm tác giả: Lê Vĩnh Trương, Dư Văn Toán, Nguyễn Đức Hùng, Nguyễn Trọng Bình, Đàm Quang Minh, Phạm Thu Xuân (Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông)

Thứ Năm, 2 tháng 6, 2011

Chiến lược phòng thủ chủ động của Trung Quốc và tác động đối với khu vực (Phần 2)

Bài đã được xuất bản trên ITimes.vn

Những báo cáo tình báo gần đây cho biết Trung Quốc hiện sở hữu 3 tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo, 59 tàu ngầm tấn công thuộc nhiều lớn khác nhau, 48 tàu frigates, 26 tàu khu trục, 40 tàu tác chiến mìn, 1 tàu đổ bộ boong lớn, 57 tàu đổ bộ nhỏ hơn và sắp có một tàu sân bay cải tiến (Varyag) cùng với một tàu sân bay khác đang trong giai đoạn tự thiết kế.

Bài phát biểu của Hạ nghị sỹ Robert J. Wittman

Những chính sách và con số đáng lo ngại của Trung Quốc

Năm 2008 Cộng đồng tình báo Mỹ đã cảnh báo: “Xét về quy mô, tốc độ và hướng phát triển, sự thịnh vượng và sức mạnh kinh tế toàn cầu đang chuyển đổi mạnh mẽ từ Tây sang Đông và là xu hướng chưa có tiền lệ trong lịch sử hiện đại”. Nếu nhìn lại lịch sử, chúng ta nhận thấy rằng: Những năm 1700 là giai đoạn thống trị của nước Pháp, những năm 1800 đặt dưới sự thống trị của Anh, những năm 1900 là thời đại thống trị của Mỹ. Vậy câu hỏi đặt ra là: sự thống trị sẽ diễn ra ở đâu trong thế kỷ 21 này?

Chứng kiến những gì đang diễn ra trên thế giới, rõ ràng Trung Quốc đang ở top đầu danh sách.

Chúng ta đều biết rằng năm 2010 Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản trở thành nền kinh tế thứ hai thế giới chỉ sau Mỹ. Trung Quốc hiện là nước xuất khẩu lớn nhất thế giới mà Mỹ làm một trong những khách hàng lớn nhất của họ. Như vậy, mối lo ngại nằm ở đó.
Với tốc độ tăng trưởng như hiện nay, sức mạnh tài chính toàn cầu tại châu Á chắc chắn sẽ lớn hơn của Mỹ vào năm 2036, một số chuyên gia còn tin rằng nó sẽ lớn hơn ngay ở năm 2020. Đó là tốc độ đủ nhanh để bắt kịp và vượt qua Mỹ.

Các chính sách quân sự của Trung Quốc đều nhằm mục tiêu chuyển đổi nguồn lực kinh tế đang gia tăng thành một quân đội chiến đấu đẳng cấp thế giới và chúng ta đang xem xét rất cẩn trọng sự chuyển đổi này diễn ra như thế nào. Quan điểm cho rằng sự thịnh vượng đang tăng lên của Trung Quốc đồng nghĩa với việc họ sẽ hành động như một cường quốc quân sự như hiện nay không tìm được bất cứ sự ủng hộ nào trong chính phủ ở Bắc Kinh. Họ nhận thức rất rõ mình đang ở đâu với cương vị là một cường quốc nổi trội trên thế giới.

Quá trình hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc bắt đầu được đẩy mạnh từ giữa đến cuối những năm 1990 nhằm đáp ứng yêu cầu của các nhà lãnh đạo trung ương: phát triển các chiến dịch quân sự đủ khả năng đáp trả mối đe dọa từ Đài Loan. Tốc độ và quy mô phát triển quân sự của Trung Quốc đã làm cho cán cân quân sự khu vực bị đe dọa. Chúng ta đang chứng kiến những gì diễn ra mỗi ngày và hàng ngày ỏ khu vực Đông Á này.

Tuy nhiên, trong khi sự chuyển đổi quân sự của Trung Quốc đang diễn ra với một tốc độ nhanh hơn nhiều chuyên gia dự đoán thì cũng phải thấy rằng họ vẫn còn thiếu kinh nghiệm tác chiến hiện đại trực tiếp và ứng dụng cơ bản về phối hợp liên quân.

Các chiến dịch chống thâm nhập hiện nay của Trung Quốc tìm cách ngăn chặn các quốc gia bên ngoài khuyếch trương sức mạnh vào khu vực và ngăn không cho họ có đủ năng lực vượt trội để khuyếch trương sức mạnh. Trung Quốc nhận thấy cần phải xem xét vấn đề hợp nhất các liên minh và đối tác an ninh của Mỹ, giảm bớt an ninh và ảnh hưởng của Mỹ tại khu vực đồng thời làm gia tăng khả năng xung đột. Chúng ta nhận thấy đi cùng với khả năng đang gia tăng của Trung Quốc là hoạt động chống tàu thâm nhập mà Mỹ không thể đối phó đã tạo ra những mối quan ngại sâu sắc và khả năng chống thâm nhậm đó kéo dài ra 1.200 dặm ngoài đường bờ biển - một con số rất đáng lo ngại.

Báo cáo phân tích về mối đe dọa của Lầu năm góc gần đây cho biết các nhà lãnh đạo ở Bắc Kinh có một niềm tin chung, đó là: sự trỗi dậy của Trung Quốc là không thể dừng lại và nước Mỹ đang trên đà đi xuống.

Bước đầu tiên trong tiến trình trỗi dậy kéo dài nhiều thập kỷ đó đảm bảm cho Trung Quốc quyền kiểm soát các vùng biển phía Đông giáp với lãnh thổ của mình. Và rõ ràng khu vực Đông Á là nơi chúng ta nhận thấy sự hiện diện và các hoạt động của Trung Quốc diễn ra chủ động nhất.

Dẫn chứng một vài ví dụ gần đây để thấy được sức mạnh đang tăng của quân đội Trung Quốc:

- Năm 2007 Trung Quốc phá hủy một vệ tinh thời tiết đã hết hạn sử dụng đang hoạt động trên một quỹ đạo tương tự với quỹ đạo của các tàu vũ trụ chụp ảnh do thám của Mỹ.

- Gần đây hơn, Trung Quốc đã thử thành công tên lửa đạn đạo Đông Phong DF-21D đủ khả năng tấn công các tàu sân bay của Mỹ ở Tây Thái Bình Dương, một loại vũ khí khá “thú vị” , bay theo đường parabol, có thể quay trở lại trái đất, và khi phát hiện được mục tiêu, nó bay theo hình zigzag tấn công mục tiêu làm cho việc đối phó trở nên rất khó khăn.

- Các vụ bay thử nghiệm chiến đấu cơ tàng hình J-20 và cải tiến tàu sân bay của Liên Xô cũ (Varyag) là những phát triển đáng lo ngại, đó là chưa kể tới các sáng kiến gia tăng số lượng tàu chiến mặt nước, tàu ngầm, tên lửa hành trình chống tàu, các khả năng tác chiến điện tử và tấn công mạng máy tính, việc hiện đại hóa mạng lưới radar cảnh báo sớm cũng như hệ thống do thám và định vị mục tiêu trên biển.

Nhờ vị thế kinh tế toàn cầu, Trung Quốc ngày nay sở hữu và vận hành một nền công nghiệp đóng tàu hùng mạnh, cạnh tranh toàn cầu. Nước này hiện được xem là quốc gia đóng tàu lớn thứ hai thế giới, và do vậy theo nhiều cấp độ khác nhau trở thành mối lo ngại của Mỹ không chỉ ở khía cạnh quân sự mà còn cả lĩnh vực thương mại.

Việc mở rộng và hiện đại hóa các xưởng đóng tàu đã giúp tăng khả năng và năng lực đóng tàu của Trung Quốc, mang lại nhiều lợi ích cho tất cả các dự án quân sự thuộc nhiều chủng loại. Những báo cáo tình báo gần đây cho biết Trung Quốc hiện sở hữu 3 tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo, 59 tàu ngầm tấn công thuộc nhiều lớn khác nhau, 48 tàu frigates, 26 tàu khu trục, 40 tàu tác chiến mìn, 1 tàu đổ bộ boong lớn, 57 tàu đổ bộ nhỏ hơn, và sắp có một tàu sân bay cùng với một tàu sân bay khác đang trong giai đoạn tự thiết kế.

Nếu so sánh với con số 286 tàu chiến của Hải quân Mỹ hiện nay, (còn theo kế hoạch dự kiến sẽ là 313 chiếc), thì rõ ràng số lượng trên của Trung Quốc đang tạo ra nhiều lo ngại.

Lần đầu tiên, nếu nhìn vào tổng lực hải quân Trung Quốc, về số lượng, họ tiến nhanh hơn Mỹ. Hiên tại chúng ta có thể biện hộ rằng, chất lượng hạm đội của Mỹ tốt hơn Trung Quốc nhưng xét theo một vài khía cạnh nào đó thì số lượng sẽ vượt qua chất lượng. Khi Trung Quốc trở thành nước lãnh đạo nền kinh tế toàn cầu, chúng ta biết rằng con số này sẽ tiếp tục gia tăng. Người Trung Quốc rất quyết liệt bám theo định hướng đó.

Đối sách của Mỹ?

Mối lo ngại của tôi là liệu chúng ta có đang đầu tư nguồn lực cần thiết vào hệ thống vũ khí của mình để đối phó hoặc đáp trả mối đe dọa đang nổi nên này? Vấn đề nằm ở chỗ, các quyết định chiến lược và ngân sách được thực hiện như thế nào ở Lầu năm góc? Liệu nhu cầu chiến lược thúc đẩy ngân sách hay ngân sách đang chèo lái các nhu cầu chiến lược? …

Để đối phó với mối đe dọa chống thâm nhập đang nổi nên tại châu Á, Mỹ cần tập trung vào việc bố trí lực lượng, tiếp tục duy trì các liên minh trong khu vực, duy trì sự có mặt hiện tại ở các căn cứ nằm ở những vị trí chiến lược tại Tây Thái Bình Dương.
Năm 2010, Báo cáo đánh giá quốc phòng 4 năm 1 lần đã chỉ trích Trung Quốc thiếu tính minh bạch trong các kế hoạch phát triển quân sự và các tiến trình đưa ra quyết định của họ. Tiếp tục trao đổi liên quân sự là cần thiết để giảm bớt những hiểu lầm và không tin tưởng lẫn nhau.

Chúng ta phải hành động nhiều hơn nữa để đảm bảo có sự minh bạch trong mối quan hệ này và chúng ta muốn sự minh bạch đó được đẩy mạnh. Đó là cách duy nhất để tránh hiểu lầm và tránh xảy ra điều gì đó tạo sự hiểu lầm và không tin tưởng có thể dẫn tới xung đột tiền tàng trong tương lai.

Chúng ta biết rằng chính phủ Trung Quốc đang đầu tư quyết liệt cho tương lai của chính họ và chắc chắn họ sẽ tiếp tục hành động như vậy. Nước Mỹ phải xem xét kỹ cơ cấu lực lượng của chính mình, phải đầu tư các nguồn lực cần thiết trong các lĩnh vực như đóng tàu, phải xem xét nghiêm túc cách thức chuyển đổi ưu tiên trong ngân sách quốc phòng sẽ ảnh hưởng tới khả năng của mình như thế nào trong việc đối phó với mối đe dọa tại Thái Bình Dương. Hơn nữa chúng ta biết Trung Quốc không phải là một mối đe dọa duy nhất mà Mỹ phải đối phó ở Thái Bình Dương.


Anh Minh (Theo USCC)