Thứ Tư, 8 tháng 2, 2012

Những bất ngờ qua vụ Tiên Lãng

Tác giả: VIẾT LÊ QUÂN

Những sự việc chưa có tiền lệ

Vào những ngày đầu tiên nổ ra vụ việc Đoàn Văn Vươn, có lẽ ít ai ngờ tới một kịch bản khuấy động dữ dội từ Tiên Lãng sẽ như một sóng dung nham tràn lên miền đồng bằng dư luận khắp cả nước như thời điểm hiện nay.

Đó là điều bất ngờ lớn nhất và tổng quát nhất, nếu so sánh với những vụ việc khiếu kiện tập thể về đất đai trước đó. Ngay cả với những cuộc khiếu kiện tập thể có quy mô đến 500 người, bao gồm dân từ hơn mười tỉnh thành và trở thành cao trào trước khu vực Văn phòng 2 Quốc hội tại TP.HCM vào năm 2007, báo chí cũng chỉ đưa tin rất khiêm tốn, dù cho dư luận về vấn đề này là rộng lượng hơn rất nhiều.
Song một sự đổi thay khó tả đã diễn ra trong không khí của công luận và dư luận. Vụ việc hàm chứa nhiều ý nghĩa chưa từng có tiền lệ ở Việt Nam đã kéo theo phản ứng tức thời và sâu sắc của báo chí và người dân, người dân với báo chí. "Điểm nổ" đã khởi nguồn không chỉ từ những tờ báo in và báo điện tử chuyên về chính trị - xã hội, mà còn lan rộng ra cả nhiều tờ báo chuyên ngành về kinh tế, khoa học kỹ thuật, giáo dục, nông thôn...
Công tâm mà xét, đây là lần đầu tiên từ sau vụ việc Thái Bình năm 1997, báo chí được "tự do" đến như thế. Vậy sự cởi mở này xuất phát từ những nguyên nhân nào?
Lẽ dĩ nhiên, điểm nhấn quá ý nhị của vụ việc Tiên Lãng chính là việc lần đầu tiên, hành vi vẫn được xem là "chống người thi hành công vụ" liên quan đến phản ứng đất đai đã được biểu hiện bằng vũ khí sát thương cao, do người bị thu hồi đất dùng để chống lại người đi cưỡng chế thu hồi.
Cũng là lần đầu tiên, ý đồ thu hồi và cưỡng chế đất đai của một chính quyền địa phương đã bị đưa ra ánh sáng, được mổ xẻ chi tiết dưới rất nhiều khía cạnh. Cuộc "trung phẫu" này lại dẫn đến kết quả xứng đáng: một số cơ quan quản lý nhà nước phải vào cuộc, và chính Thủ tướng cũng yêu cầu chính quyền Hải Phòng làm rõ những uẩn khúc theo phân tích của công luận và dư luận.
Vợ con anh Đoàn Văn Vươn và Đoàn Văn Quý bên ngôi lều dựng tạm tại khu đầm bị san phẳng. Ảnh Tuổi Trẻ
Một trong những bức xúc rất đáng lưu tâm, có mối liên đới trực tiếp đến phương diện chính trị, là hiện tượng một số chính quyền địa phương đã sử dụng quân đội phục vụ cho hành động cưỡng chế đất đai. Tuy nhiên nếu xét đến những ẩn ý và quyền lợi bên trong của từng vụ việc thì không khác mấy biểu hiện "Dịch vụ hỗ trợ thi công" ở Cần Thơ hay Nam Định, có vẻ như những lực lượng quân sự ở địa phương đã bị lạm dụng nhiệm vụ "bảo vệ Tổ quốc" để chuyển sang phục vụ cho những nhóm lợi ích nào đó.
Nước đã tràn và lửa cũng đã cháy. Lần đầu tiên hoạt động lạm dụng trên đã được phản biện xã hội một cách minh bạch. Điều đáng nói là không chỉ do công luận, mà chính sự phản biện đó lại đến từ nhiều tướng lĩnh của Quân đội nhân dân Việt Nam - những người không thể chấp nhận hình ảnh "vì nhân dân quên mình" bị biến thái thành một cái gì đó đối lập với "từ nhân dân mà ra".
Thay đổi từ "sự tồn vong của chế độ"
Khác với quá khứ, không khí hiện tại đang được phản biện và mổ xẻ một cách công tâm hơn hẳn. Vì sao bầu không khí ấy lại có điều kiện để tồn tại và lan tỏa?
Rõ ràng đã có một sự thay đổi về nhận thức, về sự xem lại "lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chính quyền" từ những cấp cao nhất của lãnh đạo Đảng và Chính phủ. Có thể liên hệ sự thay đổi này với một đánh giá của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trong Hội nghị trung ương 4 vào đầu năm 2012, đúng 15 năm sau "sự kiện Thái Bình", về yêu cầu cấp thiết phải chỉnh đốn Đảng liên quan đến "sự tồn vong của chế độ".
Vậy lòng tin của người dân đối với Đảng và chính quyền được biểu hiện qua cái gì? Nếu các cấp chính quyền vẫn thường lấy lời dạy "Lấy dân làm gốc" của Nguyễn Trãi và sau này là Hồ Chủ tịch như một kim chỉ nam cho việc học tập, thì cái gốc ấy cũng chính là quyền lợi thiết thân, quyền lợi về dân sinh và dân chủ của người dân.
Quyền lợi của người dân lại gắn liền với đất đai - lĩnh vực chiếm đến 90% nội dung trong tổng số đơn thư khiếu kiện. Như vậy, muốn "lấy dân làm gốc", các cấp chính quyền, đặc biệt là chính quyền các địa phương, cần đặc biệt lưu tâm, thay cho thái độ quan liêu tắc trách, đến toàn bộ các vụ việc khiếu kiện từ cá nhân đến tập thể, từ chính sách thu hồi đất đai, mức giá bồi thường, công tác tái định cư đến hành vi cưỡng chế thu hồi...
Đất đai, tiêu điểm trong mọi tiêu điểm ở Việt Nam, là nơi thu hút sự bức xúc đến đỉnh điểm của người dân, lại khởi điểm từ nguồn cơn của các nhóm lợi ích còn lẩn khuất trong bóng tối. Điều đáng ghi nhận là trong một trả lời chất vấn trước Quốc hội vào cuối năm 2011, chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã trực tiếp đề cập đến vấn đề nhóm lợi ích. Liên tưởng với "sự tồn vong của chế độ" từ Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, hẳn người ta đã nhận ra nguy cơ của các nhóm lợi ích và hố sâu phân hóa giàu nghèo là lớn đến thế nào, kinh khủng và dễ bùng nổ đến thế nào trong xã hội đương đại Việt Nam.

Chủ tịch huyện Tiên Lãng vừa bị đình chỉ chức vụ Lê Văn Hiền.
Sẽ không thể, không có sự chỉnh đốn nào có thể giải quyết êm thấm mọi vấn đề đất đai, nếu không loại trừ được các nhóm lợi ích - được đặc trưng bởi hoạt động đầu cơ và sự kết nối hữu cơ giữa đầu cơ với một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên đã "tự diễn biến".
Mọi sự chỉnh đốn Đảng cũng sẽ không thể mang lại kết quả như ý nếu tự thân các cấp chính quyền địa phương ở Việt Nam không rút ra được bài học nào từ vụ việc "chống người thi hành công vụ" của 13.000 dân làng Ô Khảm ở Trung Quốc.
Có lẽ cũng từ nhận thức ấy mà đã diễn ra một sự đổi thay trong Đảng vào những ngày nổ ra vụ việc Đoàn Văn Vươn - tiền đề tạo nên tự do báo chí trong dư luận của người dân và của cả đảng viên, cũng là sự hậu thuẫn rất cần thiết cho mục tiêu làm rõ trắng đen trong ít nhất một vụ việc Tiên Lãng.
Với sự thay đổi về nhận thức chỉnh đốn Đảng và nhìn nhận sát hơn bài học "lấy dân làm gốc", người dân có quyền hy vọng về ít nhất những lãnh đạo cấp cao của Đảng và chính quyền - những người có ảnh hưởng lớn đến công tác dân vận, tuyên giáo và nội chính, đang từng bước tạo điều kiện cho báo chí tái lập hình ảnh công bằng quyền lợi trong trào lưu thu hồi và cưỡng chế đất đai ở Việt Nam./.

Thứ Hai, 6 tháng 2, 2012

Chuyên gia Hoa kiều nói về bước tiến Hải quân VN



Cập nhật lúc :2:49 PM, 06/02/2012 trên ĐấtViệt 

Chuyên gia phân tích Gary Li: " Tăng cường mua sắm và tự đóng mới theo thiết kế nước ngoài, Việt Nam đang thể hiện những nỗ lực để thu hẹp khoảng cách về sức mạnh quân sự".

(ĐVO) Gary Li, người đứng đầu Trung tâm phân tích và dự báo chiến lược Không quân và Hải quân có trụ sở tại London, Anh đã có bài đánh giá về quá trình hiện đại hóa quân đội Việt Nam trong thời gian gần đây. Dưới đây là nội dung bài viết của ông về vấn đề này, được đăng tải trên Defence News. Trong đó, có nhiều thông tin chưa kiểm chứng về dự định hợp tác giữa Việt Nam và Hà Lan về chiến hạm Sigma: 

Những bước tiến mới của Hải quân Việt Nam 

Ngày 17/1 vừa qua, Việt Nam đã công bố một tàu chiến mới do công nghiệp đóng tàu trong nước tự đóng theo bản vẽ mua từ nước ngoài. Dù, con tàu không thực sự ấn tượng theo tiêu chuẩn của tàu chiến hiện đại, nhưng điều này phản ánh một nỗ lực lớn của Việt Nam trong việc phát triển công nghiệp đóng tàu quân sự trong nước nhằm thu hẹp khoảng cách với các nước trong khu vực. 
Giới quân sự phương Tây nhận định, tàu pháo TT-400TP là một nỗ lực đáng ghi nhận của Việt Nam trong việc thu hẹp khoảng cách sức mạnh quân sự. 

Việt Nam ở trong một khu vực đang có tranh chấp lãnh hải (biển Đông), nơi được cho là có nhiều nguồn tài nguyên, đặc biệt là dầu mỏ. Một số mỏ dầu lớn của Việt Nam như Bạch Hổ dự kiến sẽ khai thác hết vào năm 2020. Nhu cầu tìm kiếm các mỏ mới là cấp bách hơn bao giờ hết. Trong khi đó, Trung Quốc đã chứng minh họ có thể làm gián đoạn các nỗ lực thăm dò của Việt Nam cũng như các nước khác thông qua sự kết hợp giữa lực lượng hải quân và hải giám. Trên đường phấn đấu xây dựng lực lượng hải quân nước xanh đến năm 2050, Trung Quốc đã tiến hành thử nghiệm tàu sân bay đầu tiên của mình, bước đầu đưa kế hoạch vào hiện thực. Trước sự phát triển nhanh chóng của Hải quân Trung Quốc, Việt Nam đã có những khoản đầu tư đáng kể nhằm tăng cường sức mạnh quân sự, đảm bảo lợi ích của mình.


Trong năm 2009, Việt Nam đã ký hợp đồng mua 6 tàu ngầm điện-diesel Kilo cùng với máy bay chiến đấu đa năng Su-30MK2 của Nga với giá trị lên đến 3,2 tỷ USD. Hợp đồng này được xem là lớn nhất Việt Nam và cũng là hợp đồng xuất khẩu hải quân lớn nhất của Nga. Cũng trong năm 2011, Hải quân Việt Nam đã tiếp nhận hai tàu hộ tống hợp Gepard-3.9, đây là hai chiếc tàu chiến hiện đại và lớn nhất Hải quân Việt Nam, ngoài ra, 2 chiếc nữa đang được đặt hàng và bắt đầu đóng mới trong năm 2012. Ngoài việc mua vũ khí từ bạn hàng truyền thống là Nga, Việt Nam còn mở rộng nguồn cung sang các nước châu Âu. Cuối năm 2011, Việt Nam và Nhà máy đóng tàu Schelde của Hà Lan đã ký hợp đồng mua 4 tàu hộ tống lớp Sigma. Theo đó, hai chiếc được đóng tại Hà Lan và 2 chiếc còn lại được đóng tại Việt Nam dưới sự giám sát của phía nhà máy đóng tàu Schelde. (Thông tin do tác giả cung cấp, chưa được kiểm chứng - ĐV). Bên cạnh việc tăng cường đội tàu chiến cho hải quân, Việt Nam còn đầu tư mạnh tay cho lực lượng cảnh sát biển. Việt Nam đã mua một số tàu tuần tra cho cảnh sát biển từ Tập đoàn Damen của Hà Lan, trong đó có một tàu tuần tra tải trọng hơn 1.000 tấn có thể mang theo trực thăng. Đây sẽ là chiếc tàu tuần tra lớn nhất của cảnh sát biển Việt Nam, một nỗ lực để tạo sự cân bằng với đội tàu tuần tra của lực lượng Hải giám Trung Quốc. 

'Chuẩn bị đầy đủ'

Điều đặc biệt là hợp đồng mua sắm tàu tuần tra từ Hà Lan không hoàn toàn theo kiểu “chìa khóa trao tay”. Các tàu tuần tra nói trên sẽ được đóng tại Việt Nam theo giấy phép dưới sự trợ giúp kỹ thuật từ phía Hà Lan, ngoài ra, Hà Lan còn giúp đỡ Việt Nam thiết lập một trung tâm nghiên cứu hải quân mới, tạo thuận lợi cho sự phát triển cơ sở hạ tầng ngành công nghiệp đóng tàu, đặc biệt là đóng tàu quân sự trong nước. Sự giúp đỡ này được xem là một lợi thế lớn của Việt Nam so với Trung Quốc, bởi nước này không thể nhập khẩu vũ khí từ các nước châu Âu, một phần là do lệnh cấm vận vũ khí, một phần lo ngại Trung Quốc có thể sao chép các công nghệ tiên tiến như từng làm với Nga. 


Kế hoạch này là một phần trong chương trình giúp đỡ các liên minh chiến lược, đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc, điều mà phương Tây đang làm đối với Ấn Độ. Trong tháng 9/2011, Ấn Độ cho biết sẽ bán tên lửa hành trình chống hạm siêu thanh BrahMos cho Việt Nam, đây không phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên với quyết định của công ty dầu khí nhà nước Ấn Độ ONGC công bố kế hoạch cùng với Việt Nam tìm kiếm và thăm dò dầu khí trên biển Đông. Ấn Độ cũng cam kết giúp đỡ Việt Nam xây dựng hạm đội tàu ngầm từ năm 2014. Tuy nhiên, Hải quân Việt Nam chưa có nhiều uy tín như lực lượng truyền thống đã có nhiều kinh nghiệm trong cuộc chiến với Mỹ suốt 30 năm. Sự tăng cường sức mạnh hải quân trong thời gian qua nhằm bảo đảm lợi ích quốc gia tại biển Đông cũng như đối phó với những nguy cơ đang nổi lên ở khu vực. Kinh phí dành cho hải quân ngày một tăng cao hơn. Việt Nam nắm giữ nhiều đảo và bãi đá ngầm nhất tại quần đảo Trường Sa. Không chỉ vậy, Việt Nam có sự hậu thuẫn lớn từ các lực lượng mặt đất bố trí dọc theo bờ biển, đội tàu tấn công cao tốc và tàu ngầm, máy bay chiến đấu đa năng Su-30MK2 có trang bị tên lửa hành trình chống tàu có thể tiến hành tấn công và rút lui an toàn vào các căn cứ dọc theo bờ biển. Chiến lược xây dựng lực lượng của Việt Nam không hoàn toàn giống với Trung Quốc, thay vào đó, Việt Nam sẽ tập trung xây dựng chiến lược chiến tranh phi đối xứng trên biển, nơi họ có thể kiểm soát tình hình. Đồng thời, ở thế yếu nên Việt Nam cố gắng chứng minh chủ quyền hợp pháp của mình đối với thế giới. Xây dựng chiến lược chiến tranh phi đối xứng, kết hợp với tạo ra các liên minh trên mặt trận ngoại giao tạo cho Việt Nam lợi thế lớn trước các cuộc xung đột nếu có. Tuy rằng, mọi việc vẫn có thể quyết định ở bàn hội nghị, nhưng rõ ràng Việt Nam đang chuẩn bị một cách đầy đủ nhất cả về phương diện quân sự và ngoại giao trước khi ngồi vào bàn hội nghị để thương lượng. 

Quốc Việt (theo Defencenews) 


Thứ Tư, 18 tháng 1, 2012

Tái cơ cấu kinh tế quốc gia và một số ý kiến về phát triển Tây Nguyên bền vững



Lê Thành Văn

Hoa cà phê

Tái cơ cấu là một nhiệm vụ trọng tâm giúp chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam sang xu hướng phát triển theo chiều sâu và bền vững, thân thiện với môi trường. Đối với mục tiêu định hướng phát triển bền vững vùng Tây Nguyên, tái cơ cấu kinh tế đóng vai trò quan trọng sống còn.

Nhu cầu tái cơ cấu kinh tế Việt Nam


Trong quá trình phát triển, theo Porter, các quốc gia sẽ trải qua 3 giai đoạn đó là: (I) Nền kinh tế dựa vào tài nguyên; (II) Nền kinh tế dựa trên năng suất và (III) Nền kinh tế phát triển nhờ sáng tạo, phát minh. Việt Nam đang đi theo mô hình tăng trưởng thấp nhất (I) vẫn chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên, công nghệ gia công, và gia tăng vốn đầu tư vào các ngành thâm dụng vốn được nhà nước bảo hộ (xi măng, thép, ô tô...). Những hạn chế này khiến chất lượng tăng trưởng và hiệu quả của nền kinh tế của nền kinh tế thấp. Vì vậy, chúng ta cần chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực, phát triển xanh, thân thiện với môi trường, tức là chuyển sang giai đoạn 2 của quá trình phát triển (xem Hình 1), trong đó đòi hỏi nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.




Nguồn : M. Porter


Số liệu thống kê những năm qua cho thấy, mô hình kinh tế phát triển hiện tại của Việt Nam đang đứng trước rất nhiều nguy cơ tiêu cực do tỷ lệ đầu tư công cao (56% GDP 2010), hiệu suất đầu tư thấp (chỉ số ICOR lên tới 6,8 năm 2010), các doanh nghiệp quốc doanh phần lớn kém hiệu quả (VINASIN, EVN), và có quá nhiều các ngân hàng với tỷ lệ nợ xấu cao…Hậu quả là, lạm phát và thâm hụt thương mại cao ở mức báo động, tốc độ tăng trưởng sụt giảm, trong khi chênh lệch giàu nghèo tăng, môi trường ô nhiễm, tài nguyên dần cạn kiệt. 


Đã có rất nhiều ý kiến bàn luận về tái cơ cấu kinh tế Việt Nam, đề cập tới các chủ để tương đối rộng từ đổi mới giáo dục, cải cách thể chế, quản lý môi trường, an sinh xã hội, tài chính, nợ công, nhập siêu, phân hóa giàu nghèo…đến quản trị quốc gia.  Tại Hội Nghị 3 của BCH TW Đảng CSVN,  ngày 10 tháng 10 năm 2011 TBT Nguyễn Phú Trọng đã kết luận “Tái cơ cấu kinh tế Việt Nam cần tập trung vào 3 lĩnh vực”: Tái cơ cấu đầu tư trong đó tập trung vào đầu tư công; Tái cơ cấu khu vực tài chính, tiền tệ, trong đó tập trung vào tái cơ cấu ngân hàng thương mại; và tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trong đó tập trung vào tái cơ cấu tập đoàn kinh tế và các tổng công ty nhà nước. Nhận định này đã được đông đảo các nhà kinh tế đồng thuận và là chủ trương nhất quán của chinh phủ trong điều hành đất nước những năm tới.


Vấn đề tái cơ cấu và phát triển bền vững Tây Nguyên


Tây Nguyên đã được Đảng và Nhà nước rất quan tâm, có thể nói hơn hẳn các vùng khác với các chương trình nghiên cứu và quy hoạch đồ sộ cấp nhà nước (Tây Nguyên 1, Tây Nguyên 2… và đang triển khai Tây Nguyên 3, chưa kể các đề tài lớn nhỏ khác. Tình hình kinh tế Tây Nguyên hiện nay đang giống như tình hình kinh tế chung của Việt Nam khoảng 15-20 năm về trước với tốc độ phát triển GPD cao (trung bình 13%/năm), cơ cấu kinh tế dựa vào nông nghiệp là chính (khoảng 50%), công nghiệp còn ở mức sơ khai với tỷ lệ khá khiêm tốn (trên dưới 20%). Kinh nghiệm phát triển trên thế giới cho thấy, chưa có quốc gia nào duy trì được tốc độ tăng trưởng cao trong thời gian dài với mô hình thuần nông vì hàm lượng giá trị gia tăng thấp và nông nghiệp chịu nhiều tác động của thời tiết, đặc biệt là trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Ngoài ra, bài học của Trung Quốc sau gần 30 năm phát triển với tốc độ cao đã gây ra rất nhiều vấn đề về ô nhiễm môi trường, gây ra nhiều cuộc biểu tình và bạo loạn. Đây là những điều chúng ta cần phải suy ngẫm vì Tây Nguyên là một vùng đặc thù với những đặc điểm khác biệt về mặt sinh thái, tự nhiên, và cũng là một khu vực xã hội nhạy cảm, đa dạng sắc tộc có tính chiến lược về an ninh quốc phòng. 




Nguồn: GSO


Những thành quả về tốc độ tăng trưởng kinh tế như vậy là đáng ghi nhận, góp phần đáng kể giúp Tây Nguyên có được vị thế ngày nay, tuy nhiên, dưới góc nhìn phát triển bền vững, thực trạng Tây Nguyên cũng đang ở mức báo động do những vấn đề bất cập trải rộng trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, an ninh - quốc phòng, văn hóa, xã hội lẫn tài nguyên môi trường. 
 
Nguồn: GSO


Trong điều kiện đó, bàn về phát triển bền vững Tây Nguyên, không thể không đặt lại vấn đề tái cơ cấu nền kinh tế của khu vực này. Những nhận thức rút ra từ  vấn đề tái cơ cấu kinh tế Việt Nam có thể đưa đến một vài gợi ý quan trọng cho quá phát triển Tây Nguyên bền vững. Theo chúng tôi, Tây Nguyên cần xác định mình đang ở đâu trong thang bậc phát triển kinh tế theo giai đoạn. Theo biểu đồ Porter, Tây Nguyên đang ở giai đoạn 1, thậm chí mới ở phần đầu của giai đoạn (phát triển chủ yếu dựa vào vốn và tài nguyên) và cần đặt mục tiêu hướng tới là giai đoạn 2 - tăng năng suất lao động, cải thiện hiệu quả đầu tư kết hợp với xu hướng sự dụng các công nghệ thân thiện môi trường, và giảm ô nhiễm. Hơn nữa, có lẽ cũng cần đặt lại câu hỏi liệu Tây Nguyên có nhất thiết phải đi theo con đường công nghiệp hóa bằng mọi cách như các vùng khác đang làm không?


Đối với khu vực doanh nghiệp nhà nước: Cần khẩn trương cổ phần hóa các nông lâm trường, giải tán các doanh nghiệp quốc doanh làm ăn không hiệu quả và chỉ nên giữ lại các doanh nghiệp quốc doanh hoạt động vì mục đích chính trị xã hội. Các nông lâm trường sở hữu diện tích đất rất lớn và quá trình cổ phấn hóa diễn ra quá chậm, ảnh hưởng không nhỏ tới nền kinh tế. Cổ phần hóa nông lâm trường sẽ không giống như các doanh nghiệp thương mại nên lộ trình, cách thức tiến hành phải nghiên cứu và tính toán kỹ, đồng thời đánh giá các tác động ngoại vi xã hội, dân cư sống xung quanh. Chỉ số ICOR1 của khối tư nhân/ngoài nhà nước cho thấy hiệu quả đầu tư tốt hơn, do vậy nhà nước nên khuyến khích khu vực này phát triển và mạnh dạn chuyển vốn đầu tư sang khu vực ngoài Nhà nước và tạo sân chơi bình đẳng. 


Khu vực tài chính ngân hàng:  Nông thôn và nông nghiệp là giá đỡ cho nền kinh tế lúc khủng hoảng, hơn nữa khu vực này thường ít được quan tâm tương xứng, và dễ gây những bất ổn xã hội. Thúc đẩy tín dụng nông thôn không những kích thích, hỗ trợ mà còn là đòn bẩy phát triển kinh tế Tây Nguyên, đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào công nghiệp chế biến nông sản, gia tăng giá trị xuất khẩu. Tuy số lượng các ngân hàng thương mại ở Việt Nam đang rất nhiều nhưng sức khỏe trung bình lại ở thế yếu so với khu vực và phần lớn “đóng đô” ở các đô thị và trục kinh tế quan trọng.  Đầu tư vào Tây Nguyên và “bắt tay” với nông dân, các ngân hàng cần được đối xử bình đẳng với những khuyến khích từ phía nhà nước với một số ưu đãi nhất định về lãi suất, cơ chế tài chính (không nên chỉ có một số ít các ngân hàng như Agribank, Ngân hàng chính sách  tập chung vào các khu vực nông thôn miền núi).  Thủ tục cho vay và các vấn đề thế chấp tài sản đang là những vướng mắc mà người dân không dễ tiếp cận được với ngân hàng.


Đầu tư công: Đây là lĩnh vực ưu tiên giải quyết của không chỉ Việt Nam mà nhiều quốc gia trên thế giới. Tây Nguyên với khả năng về vốn có hạn, chỉ nên tập trung vào các dự án trọng điểm mang tính thiết thực, nhất là các dự án tốn kém như cơ sở hạ tầng, công nghiệp. Câu truyện bauxite Tây Nguyên vẫn còn tính nóng hổi với những phản biện của các nhà khoa học về hiệu quả đầu tư là một ví dụ. Trong khi đó, thực tế cho thấy hiệu quả đầu tư trong nông lâm nghiệp luôn cao hơn các lĩnh vực khác2, đảm bảo các vẫn đề ổn định xã hội và xóa đói giảm nghèo. Gần đây mô hình liên minh công tư (PPP) tương đối mới đã và đang áp dụng ở Việt Nam, Tây Nguyên cần tranh thủ mở rộng mô hình này, đặc biệt nhằm huy động vốn đầu tư từ phía các doanh nghiệp.


Song song với tái cơ cấu những khu vực trên, Tây Nguyên vẫn nên tiếp tục chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, chú trọng vào giá trị gia tăng và năng suất nông nghiệp, phát triển nông nghiệp hữu cơ, sinh thái và công nghệ cao. Phát triển nông nghiệp nói chung và một số cây lương thực và công nghiệp nói riêng vẫn là những lợi thế cần tiếp tục phát huy lợi thế so sánh nhưng tránh phát triển ồ ạt, phá vỡ quy hoạch, đặc biệt là phá rừng. Công nghiệp nên đi theo hướng hỗ trợ nông nghiệp như công nghiệp chế biến, ứng dụng các công nghệ thân thiện môi trường, ít gây ô nhiễm, công nghiệp phục vụ nông nghiệp và công nghiệp gắn với nông lâm nghiệp. Với địa hình chia cắt, không có cảng biển, đường sắt và nguồn nhân lực có hạn, Tây Nguyên không có nhiều lợi thế cạnh tranh nếu đi vào các ngành công nghiệp truyền thống và công nghiệp nặng. Nhiều tỉnh, nhiều nơi muốn đầu tư vào công nghiệp vì tăng trưởng nhanh, tạo ra giá trị GDP lớn, nhưng chúng ta thử nhìn lại xem tỷ lệ lấp đầy các khu công nghiệp ngay cả các tỉnh có nhiều lợi thế là bao nhiêu trong khi lượng vốn đầu tư bỏ ra là không nhỏ. Tiếp nữa, nếu quá xa đà vào các ngành khai khoáng,  Tây Nguyên có thể phải trả giá rất đắt cho các thế hệ sau từ những nguy cơ ô nhiễm môi trường. Khoáng sản càng để lâu càng quý và có giá, nên sẽ tốt hơn biết bao nếu coi nó như “của hồi môn” dành cho thế hệ sau, sẽ chỉ khai thác khi đảm bảo được các yếu tố hiệu quả kinh tế, công nghệ tiên tiến và quan trọng hơn cả là hợp lòng dân. Trên thế giới, đã có những mô hình phát triển thành công dựa trên phát triển nông nghiệp, kết hợp đầu tư phát triển công nghiệp phụ trợ (cung cấp đầu vào, chế biến sản phẩm đầu ra), tổ chức cho người nông dân vào các hiệp hội để tăng hiệu quả sản xuất và khả năng cạnh tranh trên thị trường như Hoa Kỳ, Đài Loan, Trung Quốc, Hà Lan, New Zealand …Ngành dịch vụ bao gồm tài chính ngân hàng, thương mại, du lịch phấn đấu trở thành một trong các trụ đỡ, hỗ trợ, bôi trơn và thúc đẩy nông nghiệp, công nghiệp tiếp tục tăng trưởng cao và ổn định. Du lịch là một lợi thế tiềm năng nếu biết kết hợp các yếu tố văn hóa, rừng và “không gian Kồng Chiêng”. Như vậy, tái cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp hướng vào tạo giá trị gia tăng lớn hơn, hàng hóa nhiều hơn, hiệu quả cao hơn và bền vững hơn với quy mô lớn hơn, công nghệ tiên tiến hơn và lao động chuyên nghiệp hơn. 


Gần đây, trước những tác động thảm khốc của thiên tai, biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường, mô hình kinh tế xanh/tăng trưởng xanh đã được nhắc đến nhiều và dự đoán sẽ là xu hướng phát triển bền vững trong tương lai. Trong đó,  GDP xanh sẽ đánh giá toàn diện các mặt tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường, vì vậy chắc chắn nó không chỉ phản ánh thực chất sự tăng trưởng của kinh tế mà còn chỉ ra các tổn thất môi trường mà sự tăng trưởng kinh tế có thể gây ra.


Kết luận


Cơ cấu kinh tế hợp lý là cơ cấu hình thành trên cơ sở khai thác, tận dụng tốt các lợi thế cạnh tranh; do đó một khu vực kinh tế có cơ cấu hợp lý sẽ là tiền đề để phát triển nhanh và bền vững. Cùng với chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng lâu dài, Tây Nguyên cần giải quyết ngay những bất hợp lý mang tính cơ cấu trước mắt nhằm tránh những nguy cơ có thể xảy ra song hành với các bất ổn tiềm tàng về mặt văn hóa, môi trường và xã hội. Phát triển bền vững trong điều kiện đặc thù của Tây Nguyên phải chăng cũng đến lúc nên định vị lại mục tiêu phát triển của mình. Dù thế nào, Tây Nguyên cũng phải đặt mình vào sự phát triển chung của cả nước, là một phần “đặc trưng” hơn là một phần “tương tự”, như một ngón tay trong một bàn tay. Kinh tế xanh, kinh tế sinh thái, hay cụ thể hơn là kinh tế rừng cần được hướng tới thay vì quá tập trung vào tốc độ tăng trưởng. Để chốt lại bài viết, ông Ban Ki-moon, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, đã công bố năm 2012 là năm “Năng lượng bền vững và bảo vệ môi trường”, vậy mỗi quốc gia, mỗi khu vực cũng nên tự ngẫm lại mình xem liệu chúng ta có đi ngược lại xu hướng tất yếu mà cả thế giới đang hướng tới hay tiếp tục “cứng nhắc, ích kỷ, mù quáng” kiên định con đường đã chọn. 


---


1. Chỉ số ICOR năm 2007 khu vực ngoài nhà nước của Kontum là 3, trong khi khu vực quốc doanh là 6,25.

2. Đặng Kim Sơn: Viện trưởng Viện Chiến lược Chính sách nông nghiệp và Phát triển nông thôn


Tài liệu tham khảo


1.    Holger R., (2011), Kinh tế học bền vững- Lý thuyết kinh tế và thực tế của phát triển bền vững. Nhà xuất bản Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, 2011.


2.    Huân, N.V, (2011). Một số vấn đề về tăng trưởng kinh tế ở Tỉnh Kon Tum giai đoạn 2000-2010.  Tạp chí KHXH Tây Nguyên, Số 3, 2011.


3.    Nguyễn Ngọc Sơn, (2010). Tái cơ cấu kinh tế sau khủng hoảng tài chính toàn cầu: Kinh nghiệm của các nước và khuyến nghị cho Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và Phát triển.


4.    Phạm Đỗ Chí, (2011). Khi rồng muốn thức dậy- Loai hoay với mô hình kinh tế sau đổi mới. Nhà xuất bản Lao động- Xã hội.


5.    Tạp chí Cộng Sản- Viện Chiến lược, (2011). Đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế. Hội thảo khoa học.


6.    Vietnam Development Report, (2011). Market Economy for a Middle-income Vietnam. Consultant Draft.

Thứ Hai, 17 tháng 10, 2011

Báo cáo đặc biệt của Mỹ về tranh chấp tại Biển Đông và Biển Hoa Đông

Bản báo cáo của của Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á (NBR) của Mỹ phân tích, đánh giá những rủi ro ở vùng Biển Đông, biển Hoa Đông và Vịnh Thái Lan; các xu hướng gần đây tại các vùng biển tranh chấp - bao gồm cả tích cực và tiêu cực; các rào cản và cơ hội để thúc đẩy hợp tác. Cuối cùng, báo cáo đề xuất một loạt các kiến nghị chính sách cho các bên liên quan. Bản báo cáo được thực hiện bởi các chuyên gia quốc tế hàng đầu trong lĩnh vực này. LỜI MỞ ĐẦU Những tranh chấp chủ quyền trên biển ở khu vực Đông và Đông Nam Á là những mối đe dọa tiềm tàng lớn nhất đối với nền an ninh và lợi ích kinh tế của các quốc gia trong khu vực cũng như trên toàn thế giới. Các tuyến giao thông lớn trên biển, đặc biệt là Biển Hoa Đông, Biển Đông, và Vịnh Thái Lan, đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự lưu thông tự do của thương mại và hàng hóa. Đồng thời, các vùng biển này này cũng chứa đựng trong nó những tài nguyên sinh vật và phi sinh vật để góp phần duy trì nền kinh tế và dân số của các quốc gia yêu sách cũng như các quốc gia sử dụng các nguồn tài nguyên đó. Cùng với sự phát triển của công nghệ cho phép khoan, đào, khai thác sâu dưới nước, giờ đây tiềm năng tài nguyên của khu vực lại càng lớn. Tuy nhiên, những yêu sách chồng lấn về quyền tài phán và những nỗ lực của các quốc gia nhằm khẳng định vị trí của mình đã gây cản trở cho mọi hoạt động, từ các hoạt động thăm dò cho đến việc khai thác các tài nguyên vốn có. Do tính phức tạp của các yếu tố chính trị, lịch sử, pháp lý, kinh tế trong nước có liên quan, cho đến nay các quốc gia yêu sách vẫn chưa đi đến được một giải pháp cho những tranh chấp này. Thậm chí vấn đề này còn trở nên phức tạp hơn do áp lực ngày càng tăng về việc phát triển nguồn năng lượng trong khu vực khi mà yêu cầu của thế giới ngày càng cao. Những nỗ lực nhằm giải quyết tranh chấp đã được thực hiện hàng thập kỷ nay, cả ở các cấp chính thức lẫn cấp Kênh II, kết quả chúng mang lại là những thỏa thuận nhằm gác xung đột chủ quyền sang một bên và cùng nhau khai thác các nguồn tài nguyên theo các hiệp định tạm thời – một phương pháp được ưu tiên để xây dựng lòng tin và hướng về phía trước. Một số hiệp định song phương ở Vịnh Thái Lan đã cho phép các dự án phát triển tài nguyên đã được triển khai. Các biện pháp xây dựng lòng tin ở Biển Đông giữa Trung Quốc và ASEAN, đặc biệt là Tuyên bố về Ứng xử của các Bên tại Biển Đông năm 2002 (DoC), cũng đã góp phần kiềm chế các căng thẳng, mặc dù không có cơ chế triển khai chính thức. Tuy nhiên các dàn xếp hiện hành cũng có những hạn chế của nó, thậm chí một vài dàn xếp đã bị trì hoãn một cách vô thời hạn. Do đó căng thẳng vẫn tiếp tục leo thang và thường xuyên trở thành tâm điểm thời sự, đặc biệt là giữa các quốc gia yêu sách ở Biển Đông. Mối quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam có lẽ là nóng nhất trong khu vực này và nổi bật bởi hàng loạt các vụ việc xảy ra trong những năm gần đây. Những vụ việc liên quan đến các quốc gia yêu sách khác về vấn đề Trường Sa, cũng như về việc xây dựng các trạm quân sự trên các bãi và đảo san hô ở Biển Đông đã khiến cho căng thẳng đến nay vẫn tiếp diễn và có tính nghiêm trọng, đồng thời trở thành động lực cho các chương trình hiện đại hóa quân sự trong khu vực. Hệ quả là, rất ít khả năng để những quốc gia này giải quyết các bất đồng trong tương lai gần. Nhận thức được rằng, có lẽ là trong hàng thập kỷ tới các quốc gia vẫn khó có thể đi đến được các giải pháp cho những tranh chấp quyền tài phán trên biển trong khu vực, nhưng cũng nhận thức được tầm quan trọng của các vùng biển tranh chấp đối với thương mại và tài nguyên; do đó Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á (NBR) đã nghiên cứu về những tranh chấp này và tác động của chúng, để từ đó đưa ra những cách nhìn mới về cách thức quản lý những xung đột trên trước khi có được một giải pháp về chính trị. Để làm việc này, NBR đã tập hợp một đội ngũ gồm các chuyên gia quốc tế để thực hiện một dự án ba năm có tên là “Maritime Energy Resources in Aisa: Opportunities for Joint Development” [Tài nguyên Năng lượng Biển ở Châu Á: Cơ hội cho sự Phát triển Chung] (MERA) để phân tích các diễn biến gần đây trong khu vực và cung cấp những phân tích và các lựa chọn thực tiễn cho các nhà hoạch định chính sách nhằm góp phần cải thiện các tranh chấp. Dự án này được hỗ trợ bởi Sáng kiến An ninh Châu Á thuộc Quỹ John D. Và Catherine T. MacArthur và được dẫn đầu bởi nhà nghiên cứu trưởng là Tiến Sĩ Cliv Schofield (Trung tâm của Úc về Tài nguyên và An ninh Đại dương, Đại học Wollongong, Úc). Báo cáo này được tổng hợp từ những kết luận và quan điểm chính của đội ngũ các học giả của dự án cũng như kết hợp ý kiến chuyên môn và phân tích của nghiên cứu trưởng, các cố vấn cấp cao, và nhân viên của NBR, những người đã tham dự hội thảo kéo dài ba ngày vào tháng 5/2011 để dự thảo báo cáo này. Mục đích của báo cáo là để tóm tắt và tập trung vào các khía cạnh liên quan đến chính sách của dự án MERA mà không bị hạn chế bởi các chính sách quốc gia hay các đòi hỏi về chủ quyền. Tôi muốn bày tỏ sự cảm kích đối với các tác giả của bản báo cáo này vì thời gian và cống hiến mà họ đã dành ra, cũng như sự ủng hộ của họ đối với dự án MERA trong tất cả các giai đoạn. Tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Quỹ MacArthur vì sự ủng hộ hào phóng về mặt tài chính, mà nếu không có nó thì dự án này đã không thể thực hiện được. Tim Cook, Giám đốc Dự án, Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á CLIVE SCHOFIELD là Giáo sư và Giám đốc Nghiên cứu tại Trung tâm của Úc về Tài nguyên và An ninh Đại dương (ANCORS), Đại học Wollongong, Úc. Hiện ông là Ủy viên giám đốc của Hội đồng Nghiên cứu Úc và là nghiên cứu trưởng của dự án “Tài nguyên Năng lượng Biển ở Châu Á: Cơ hội cho sự Phát triển Chung” của NBR. Có thể liên lạc với ông qua địa chỉ < clives@uoww.edu.au>. IAN TOWNSEND-GAULT là Giám đốc Viện Nghiên cứu Đông Nam Á tại Trung tâm Nghiên cứu Pháp lý Châu Á, Khoa Luật, Đại học British Columbia. Có thể liên lạc với ông qua địa chỉ < itgault@law.ubc.ca> HASJIM DJALAL là thành viên Hội đồng Biển Indonesia; Cố vấn Cấp cao của Bộ trưởng Bộ Hàng hải và Ngư nghiệp, Bộ trưởng Bộ Giao thông, và Trưởng Tham mưu Hải quân Indonesia; và là thành viên của Nhóm Chuyên gia Pháp lý của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Indonesia. Có thể liên lạc với ông qua địa chỉ < hdh@cbn.net.id>. IAN STOREY là Ủy viên giám đốc của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS), Singapore, và là Biên tập viên của tạp chí Contemporary Southeast Asia. Có thể liên lạc với ông qua địa chỉ < ijstorey@edu.sg>. MEREDITH MILLER là Phó Chủ nhiệm Các vấn đề Thương mại, Kinh tế, và Năng lượng ở Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á. Có thể liên lạc với bà qua địa chỉ < mmiller@nbr.org>. TIM COOK là Giám đốc Cao cấp của Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á. Có thể liên lạc với ông qua địa chỉ tcook@nbr.org TÓM TẮT Báo cáo này phân tích các kết luận từ dự án ba năm về “Tài nguyên Năng lượng Biển ở Châu Á: Cơ hội cho sự Phát triển Chung” của Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á, trong đó đánh giá các tranh chấp quyền tài phán trên biển và các cơ hội hợp tác ở Đông và Đông Nam Á. NHỮNG KÉT LUẬN CHÍNH Những tranh chấp lâu năm về các yêu sách quyền tài phán trên biển ở Biển Hoa Đông, Biển Đông, và Vịnh Thái Lan đe dọa sự ổn định và thịnh vượng lâu dài của các quốc gia trong khu vực Đông và Đông Nam Á. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực đa phương trong những thập kỷ gần đây cùng với các thể chế pháp lý quốc tế như Công ước LHQ về Luật Biển, nhưng căng thẳng giữa các quốc gia yêu sách và các quốc gia sử dụng vẫn cao. Các quốc gia yêu sách vẫn chưa đi đến được một giải pháp cho những tranh chấp này do tính phức tạp của các yếu tố chính trị, lịch sử, pháp lý, kinh tế trong nước có liên quan và áp lực cần phải phát triển các nguồn năng lượng trong khu vực tranh chấp. Những mối quan ngại về quyền tiếp cận tài nguyên, cùng với việc các quốc gia yêu sách đã không thực thi được các biện pháp xây dựng lòng tin (CBM) để xoa dịu căng thẳng, đã cho thấy rằng một giải pháp chính trị khó có thể đạt được trong ngắn hạn. Ngay cả khi không có một thỏa thuận dài hạn, thì các quốc gia yêu sách vẫn cần phải có những hành động phối hợp tạm thời để xoa dịu căng thẳng, tăng cường hợp tác và lòng tin, cũng như duy trì cương vị quản lý đối với môi trường và tài nguyên biển. Ý NGHĨA CHÍNH TRỊ + Các quốc gia có thể quản lý tốt hơn những căng thẳng hiện tại bằng cách thực thi các biện pháp xây dựng lòng tin, bao gồm cả các biện pháp được liệt kê trong Tuyên bố về Ứng xử của Các bên tại Biển Đông (DoC). Những biện pháp này có thể bao gồm những việc như sử dụng các đường dây nóng, thông báo trước về việc tập trận quân sự, tìm kiếm và cứu nạn chung, hợp tác về phòng, chống các mối đe dọa xuyên quốc gia, các quy định về ứng xử khi đụng độ trên biển cả, và tăng cường minh bạch về quân sự. + Bất kể hạn chế trong việc thực thi DoC, Trung Quốc và các nước ASEAN cần phải bắt đầu đàm phán để về một bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông để chính thức hóa các biện pháp xây dựng lòng tin và hạn chế những hành động gây mất ổn định. +Việc quản lý tạm thời nhiều tranh chấp lãnh thổ và trên biển có liên kết với nhau ở Châu Á là cách tốt nhất để đảm bảo quyền tự do hàng hải và sự lưu thông tự do của thương mại, vốn đóng vai trò hết sức quan trọng đối với các nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới. Những dàn xếp này sẽ không phương hại tới các yêu sách trên biển của các quốc gia trong thời gian ngắn. Không gian biển nửa kín của Biển Hoa Đông, Biển Đông, và Vịnh Thái Lan là nơi chứa đựng các tuyến giao thông trên biển (SLOC) có giá trị vô cùng quan trọng không chỉ với các quốc gia ở Đông và Đông Nam Á mà còn với thương mại toàn cầu. Hơn nữa những vùng biển này còn chứa một môi trường biển vô cùng đa dạng về sinh học, có giá trị lớn với ngành đánh cá, và do đó nó duy trì được sự sống của hàng trăm triệu người. Thêm vào đó, từ lâu đã có những dự đoán rằng những khu vực này chứa đựng trữ lượng dồi dào các nguồn năng lượng đáy biển – một tiềm năng có sức hấp dẫn vô cùng lớn trong một thời đại mà mối lo ngại về an ninh năng lượng ngày càng gia tăng. Tuy các nguồn trữ lượng năng lượng dưới đáy biển đã được phát hiện và đang trong quá trình được phát triển trong khu vực Biển Hoa Đông, Biển Đông, và Vịnh Thái Lan, nhưng tiềm năng thực sự của những khu vực này vẫn chưa được làm sáng tỏ và cũng chưa thể hiện thực hóa do các tranh chấp về quyền tài phán lãnh thổ và trên biển vẫn là những đặc tính cố hữu của những vùng biển này. Thực tế là những không gian biển này đã được định hình bởi nhiều tranh chấp chủ quyền đối với những hòn đảo, đảo đá, bãi đá ngầm có diện tích nhỏ và cách xa bờ cùng với những yêu sách chồng chéo và không phải lúc nào cũng rõ ràng về quyền tài phán. Những tranh chấp về chủ quyền và quyền tài phán trên biển ở Đông và Đông Nam Á là những điểm nóng có nguy cơ trở thành mối đe dọa đối với hòa bình, an ninh, và cùng với nó là thịnh vượng về kinh tế trong những khu vực này. Những yêu sách xung đột nhau về chủ quyền đối với các hòn đảo và các đảo nhỏ cùng với những yêu sách chồng lấn trên biển liên quan đến chúng là nguồn gốc của sự căng thẳng trong suốt hàng thập kỷ qua. Những tranh chấp này đã dẫn đến hàng loạt các vụ việc và thậm chí là đụng độ quân sự giữa các quốc gia yêu sách trong quá khứ. Với sự dai dẳng của các tranh chấp, rất có khả năng những vụ việc đó sẽ lại tiếp diễn và có nguy cơ phát triển thành những xung đột lớn hơn. Việc không có một giải pháp giải quyết tranh chấp đã là một cản trở lớn đối với các lợi ích tích cực mà những không gian biển và các tài nguyên của nó có thể mang lại cho các quốc gia trong khu vực. Đặc biệt là khi nhìn từ góc độ năng lượng, các tuyến biển của Châu Á là những điểm quá cảnh quan trọng – và cũng có thể là những nguồn trữ lượng dồi dào – của năng lượng hidrocacbon mà các nền kinh tế trong khu vực phải dựa vào để duy trì quỹ đạo phát triển của mình. Nhiều quốc gia trong khu vực đang bị thâm hụt nguồn năng lượng trong nước một cách nghiêm trọng và đang ngày càng phụ thuộc vào việc nhập khẩu dầu thô để đáp ứng các yêu cầu. Chẳng hạn, ở Đông Á Nhật Bản và Hàn Quốc là hai nước phụ thuộc rất nhiều vào dầu thô để đáp ứng hầu hết các yêu cầu của mình, và trong năm 2009 Trung Quốc đã phải dựa vào dầu thô nhập khẩu để giải quyết 53% các nhu cầu. Sự lệ thuộc vào dầu thô và khí của hầu hết các quốc gia ở Đông và Đông Nam Á (ngoại trừ Brunei) được dự đoán là sẽ còn tăng mạnh trong tương lai. Hầu hết các nguồn năng lượng nhập khẩu này đến từ Châu Phi và Trung Đông và được vận chuyển bằng đường biển qua các điểm kiểm tra ở Đông Nam Á như Eo biển Malacca, Singapore, Sunda, Lombok, Makassar, và Balabac rồi mới đi tiếp qua Biển Đông và Biển Hoa Đông đến bến cảng cuối cùng. Bất kỳ cuộc đụng độ hay biểu dương lực lượng nào ở một trong những điểm này cũng có thể ảnh hưởng tiêu cực tới an ninh năng lượng trong khu vực do tàu thuyền phải điều chỉnh lại tuyến hàng hải. Do trữ lượng dầu chủ yếu của thế giới tập trung ở những nơi như Trung Đông nên các nguồn cung cấp thay thế mà không đòi hỏi việc quá cảnh qua khu vực bị ảnh hưởng là tương đối thấp. Tranh chấp trong khu vực trải rộng từ những yêu sách chủ quyền đối với đảo và vùng biển liên kết cho đến những bất đồng về năng lực của những hòn đảo nhỏ, xa bờ, và không có người sinh sống để bổ trợ cho những yêu sách mở rộng đối với không gian biển. Những bất đồng về vai trò của các hòn đảo trong việc phân định biên giới trên biển, cũng như những bất đồng về cách thức tiếp cận hay phương pháp của việc phân định biên giới đã làm trầm trọng thêm sự phức tạp của các tranh chấp và dẫn đến sự trì hoãn của một biện pháp giải quyết cuối cùng. Những nỗ lực để giải quyết các tranh chấp này đã tiếp diễn hàng thập kỷ nay tại các cấp độ chính phủ và cấp độ Kênh II mà hầu như không đạt được mấy thành công. Trong đó, những nỗ lực trong cách tiếp cận về pháp luật quốc tế dựa trên Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS), các cuộc đàm phán phân định biên giới song phương, và các hiệp định phát triển tài nguyên chung đã đóng vai trò kiềm chế hành vi của các quốc gia, đưa ra các lựa chọn thay thế, và nhìn chung đã nhấn mạnh vai trò của ngoại giao và đàm thoại thay vì sử dụng lực lượng quân sự trong việc giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, vẫn có những dấu hiệu đáng báo động về căng thẳng đang gia tăng giữa các quốc gia trong khu vực Đông và Đông Nam Á về những yêu sách chồng chéo của họ. Chẳng hạn, trong nửa đầu năm 2011 đã có ít nhất là hai lần tàu hải giám của Trung Quốc quấy rầy tàu thăm dò địa chấn do chính phủ Philippin và Việt Nam làm chủ quản và buộc những con tàu này phải ngừng các hoạt động khai thác của mình. Sự kiện đầu tiên xảy ra vào tháng 3 ở Bãi Cỏ rong, một khu vực mà Philippin cho là thuộc vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) kéo dài 200 hải lý của mình. Sự kiện thứ hai xảy ra vào tháng 5 ở vùng biển gần tỉnh Phú Yên của miền trung Việt Nam. Cả Manila và Hà Nội đều đã phản đối những hành động của tàu tuần tra Trung Quốc. Một vụ việc khác đã xảy ra vào tháng 9/2010 khi lực lượng Biên phòng Nhật Bản bắt giữ thuyền trưởng của một con tàu đánh cá của Trung Quốc sau một cuộc đụng dộ ở vùng biển tranh chấp ở Biển Hoa Đông. Sự kiện này, cùng với căng thẳng ngoại giao về sau, đã làm dấy lên căng thẳng giữa các thành phần chủ nghĩa dân tộc của hai nước và làm lu mờ hơn khả năng thực thi hiệp định năm 2008 về vùng phát triển chung và dự án dầu khí. Trong khi đó, ở Vịnh Thái Lan tình trạng xấu đi của quan hệ giữa Campuchia và Thái Lan, chủ yếu do những tranh chấp trên biên giới đất liền, vẫn có khả năng lan ra biển. Những vụ việc nêu trên và một loạt các tranh cãi tương tự đã thường xuyên xảy ra trong các năm gần đây. Trong mọi vụ việc thì căng thẳng và sự mất lòng tin đều gia tăng giữa các chủ thể chính, và từ đó đặt ra nghi vấn về khả năng giải quyết những tranh chấp này trong tương lai. Ở những nơi có những yêu sách chồng lấn về biển, những bất trắc về quyền tài phán rõ ràng đã gây phức tạp cho công tác quản lý tài nguyên đại dương. Những chính sách không được điều phối dẫn đến tranh chấp về tài nguyên mang tính hủy hoại và không bền vững, đặc biệt là đối với các tài nguyên sinh vật biển. Sự đối đầu, va chạm giữa các đoàn tàu đánh cá có thể nhanh chóng kéo các cơ quan chức năng của các quốc gia ven biển vào cuộc, đặc biệt là khi các lực lượng an ninh của quốc gia chỉ đơn thuần cho là mình đang tuần tra ở không gian biển “của mình”. Sự cạnh tranh về tài nguyên cũng có xu hướng kích động các thành phần chủ nghĩa dân tộc - tương tự những gì đã xảy ra trong các cuộc biểu tình ở Trung Quốc về việc Nhật Bản bắt giữ thuyền trưởng thuyền đánh cá của Trung Quốc. Những tư tưởng chủ nghĩa dân tộc như vậy càng làm gia tăng rủi ro cho các nhà lãnh đạo chính trị do họ có thể vì lí do nhượng bộ mà thể hiện sự yếu đuối với công dân của mình. Trong trường hợp xấu nhất, nếu căng thẳng leo thang và trở thành xung đột vũ trang thì quyền tự do hàng hải và thương mại tren biển, bao gồm việc quá cảnh các nguồn tài nguyên năng lượng quan trọng, sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực. Clive Schofield, Ian Townsend-Gault, Hasjim Djalal, Ian Storey, Meredith Miller, và Tim Cook Bá Việt (dịch) Quang Hưng (hiệu đính) Báo cáo của Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á (National Bureau of Asian Research) về hợp tác trên biển ở Đông và Đông Nam Á, bản gốc tiếng Anh “From Disputed Waters to Seas of Opportunity: Overcoming Barriers to Maritime Cooperation in East and Southeast Asia” Tin mới hơn: Tranh chấp Biển Đông trong quan hệ ASEAN và Trung Quốc: Đa phương và Song phương[03/10/2011 15:33] Tin cũ hơn: Trung Quốc: Tọa đàm hẹp về tình hình Biển Đông và lợi ích, chiến lược của Trung Quốc[15/09/2011 00:00] Trung Quốc có thể bảo vệ được "lợi ích cốt lõi" tại Biển Đông hay không?[12/09/2011 08:46] ASEAN và tranh chấp Biển Đông[05/09/2011 13:57] Tuyên bố Hà Nội của Clinton về Biển Đông: Khởi nguồn chiến lược kiềm chế Trung Quốc của Mỹ? [31/08/2011 16:58] Đánh giá hiệu quả các khuôn khổ và cơ chế về an ninh biển trên Biển Đông hiện nay[31/08/2011 00:00] Vai trò của Nhật Bản trong vấn đề Biển Đông[30/08/2011 00:00] Triển vọng trong tương lai và các hàm ý chiến lược (phần cuối)[26/07/2011 07:00] Địa chính trị, Hải quân và Chiến lược ở Biển Đông[29/06/2011 15:12] Ngoại giao ống dẫn dầu của Trung Quốc: Mối đe dọa của những xung đột cường độ thấp[28/06/2011 09:40]

Thứ Năm, 18 tháng 8, 2011

Ra công viên xem Tây dạy con

Cập nhật lúc 19/08/2011 06:22:00 AM (GMT+7) trên VietnamNet

Không ít mẹ Việt đã từng thèm thuồng khi nhìn những đứa trẻ Tây tự ngồi xúc ăn một cách ngoan ngoãn bên cạnh bố mẹ. Không ít bà mẹ Việt đã từng thèm muốn có được ¨phép màu¨ của những ông bố, bà mẹ Tây khi chỉ cần một cái lừ mắt, một câu ¨No! No!¨ nhẹ nhàng là lập tức đứa trẻ ngoan ngoãn vâng theo. Liệu có phải trẻ Tây ngoan hơn trẻ Việt hay những ông bố, bà mẹ Tây có bí quyết 'thuần phục' trẻ?



Ra công viên, xem Tây dạy con

Ngay từ những ngày đầu, tôi thấy các ông bố bà mẹ Tây mới sung sướng làm sao khi họ cứ việc ngồi trò chuyện, uống nước với nhau trong quán để mặc con cái tự chơi trong công viên với nhau.
Công viên chia thành từng khu vực cho từng đối tượng, nhưng đông nhất vẫn là khu vực dành cho trẻ dưới 8 tuổi. Đồ chơi được đổ ra, bọn trẻ chơi với nhau thân thiện, vui vẻ cho dù trước đó chúng chưa hề gặp, không tiếng cãi nhau, không cảnh tranh giành đồ chơi, không có tiếng khóc gọi bố, mẹ… Chơi xong, trẻ tự thu dọn đồ chơi của mình. Nếu có trẻ đang chơi đồ chơi của bạn mà bạn về, chỉ cần nghe thấy câu ¨tớ phải về nhà bây giờ¨ thì cho dù thích đồ chơi đó đến đâu, bé cũng trả bạn ngay.
Nhưng 'ngưỡng mộ' nhất với tôi đó là việc ăn của trẻ. Với những trẻ lớn đã đi học mẫu giáo hoặc tiểu học, chúng cầm bánh mỳ hoặc đồ ăn khác mà bố mẹ đưa cho, tự ăn một cách ngon lành; những trẻ bé còn ăn bột, sữa thì ¨bị¨ đặt vào xe đẩy và ngồi yên để bố/mẹ xúc cho ăn.
Tôi thường xuyên được chứng kiến cảnh trong vòng 5-10 phút, bé hoàn thành phần bột, cháo, hoa quả nghiền hay sữa của mình. Tôi liên tưởng đến cảnh 'cực khổ' mỗi khi cho con ăn của mình cũng như của không ít bà mẹ Việt. Và ngày ngày đưa con ra công viên chơi, tôi quan sát, tôi để ý xem tại sao họ- những ông bố, bà mẹ Tây làm được những điều mà tôi không thể. Những ngày ở công viên trẻ em đã giúp tôi có những so sánh để nhận ra sự khác biệt giữa hai cách dạy con - của họ và của tôi (và có lẽ là của nhiều mẹ Việt), giúp tôi nhận ra và học hỏi được nhiều điều từ cách dạy con của mẹ Tây.
Rèn con từ nhỏ, kiên trì, lắng nghe, nghiêm khắc và làm bạn với con
Lòng kiên trì của mẹ Tây với con có lẽ mẹ Việt phải chào thua. Nhiều mẹ Việt băn khoăn tự hỏi làm sao để 'không nổi khùng khi chơi với con', làm sao để không nổi cáu khi dạy con học.
Trái lại, mẹ Tây là những người bạn thực sự của con. Mẹ Tây có thể ngồi chơi xúc cát với con, thậm chí, cả với trẻ mới gặp lần đầu đến cả 1 - 2 giờ đồng hồ. Nếu bé có hành động chưa đúng, mẹ nhẹ nhàng nhưng vô cùng kiên quyết nói ¨No! No!¨ (không được) cho đến khi nào trẻ dừng hành động sai trái của mình.
Đặc biệt, mẹ ¨Tây¨ cực kỳ kiên nhẫn lắng nghe những thắc mắc của trẻ và ¨miệt mài¨ giải thích cho những câu hỏi ¨tại sao không¨ của bé mà không hề nổi nóng. Rất nhiều ngày ra công viên, tôi chưa một lần thấy mẹ Tây quát mắng, nặng lời với con.
Ngay từ khi còn rất nhỏ, chỉ vài tháng tuổi, bé đã được bố mẹ cho ra công viên chơi cùng các bạn. Với bé dưới 3 tuổi, bố mẹ theo sát từng cử chỉ, hành động của con, từ ¨No! No!¨ luôn được họ sử dụng để uốn nắn bé và kèm sau đó là lời giải thích cho lý do ¨No! No!¨ ấy.


Ra công viên, tất cả đồ chơi đều là của chung! Những câu như : ¨Con chơi chung với bạn đi¨, ¨Con giúp bạn xúc cát đi¨, ¨Con cảm ơn bạn đi¨… luôn được mẹ Tây sử dụng. Chính vì được kèm cặp từ nhỏ như vậy nên đến khi các bé ngoài 3 tuổi, bố mẹ hầu như không phải lo lắng gì khi để chúng tự chơi với bạn. Đây cũng có thể là một lý do khiến người Tây làm việc theo nhóm tốt hơn người Việt.
Chuyện của trẻ con để trẻ con tự giải quyết! Đây là sự khác biệt lớn nhất giữa cách dạy con của ¨Tây¨ và của người Việt. Nếu mỗi khi trẻ Việt khóc đòi đồ chơi của ai đó thì ông, bà hoặc bố mẹ hay người trông bé sẵn sàng hỏi mượn cho bé. Với bé ¨Tây¨, điều này khác hoàn toàn, bé phải tự hỏi mượn bạn, bạn không cho mượn, bé phải ¨chấp nhận¨, không được khóc lóc, mè nheo. Bé tuyệt đối không được đòi, tranh đồ chơi của bạn. Khi mượn, chơi xong hoặc bạn về, bé đưa trả bạn một cách tự nguyện, vui vẻ, thậm chí còn giúp bạn thu dọn đồ chơi. Người lớn hầu như không can thiệp vào chuyện của trẻ khi có những cãi cọ, tranh giành nho nhỏ, họ để cho chúng tự tìm cách hòa giải với nhau.
Hào phóng lời khen với trẻ! Nếu như một số ông bố, bà mẹ Việt sợ rằng khen nhiều con sẽ kiêu căng, sợ con không có ý chí phấn đấu nên ¨hà tiện¨ lời khen với con, thậm chí còn dùng cách ¨khích tướng¨ bằng cách chê bai để trẻ ¨bực mình¨ mà phấn đấu vươn lên thì các ông bố, bà mẹ ¨Tây¨ lại cực kỳ ¨hào phóng¨ lời khen với trẻ.
Chỉ cần trẻ làm được một việc gì đó cho dù rất nhỏ cũng nhận được câu ¨rất tốt¨, ¨rất giỏi¨, ¨rất ngoan¨. Trẻ luôn được khích lệ để làm việc tốt. Ngược lại, trẻ cũng bị nhắc nhở, phê bình nghiêm khắc khi có hành động chưa đúng dù cũng rất nhỏ.
Nhìn những khuôn mặt vui vẻ của trẻ mỗi khi được khích lệ, tôi chợt nghĩ rằng, có lẽ cách của mẹ ¨Tây¨ hiệu quả hơn cách ¨khích tướng kiểu chê bai¨ của một số ông bố, bà mẹ Việt.
Bởi rằng, trẻ Việt không phải là những ¨ông tướng Tàu¨ thời xưa để có thể nung nấu ý chí, vượt khó khăn, phấn đấu vươn lên để ¨rửa nhục¨. Những lời nhiếc mắng, chê bai nặng lời của bố mẹ đôi khi còn làm tổn thương nặng nề tâm hồn trẻ thơ, làm nhụt ý chí của trẻ, thậm chí, ám ảnh trẻ lâu dài.
Nhìn sự ân cần, kiên nhẫn, tỉ mỉ dạy con của họ, tôi thấy rằng, quả thật, kỹ năng giáo dục trẻ của tôi còn ¨thiếu¨ và ¨yếu¨. Tôi đã hiểu, tại sao trẻ ¨Tây¨ ngoan thế!
Tất cả chỉ bởi vì chúng nhận được một sự giáo dục tốt từ nhỏ, từ chính bố mẹ chúng. Giá như tôi cũng như nhiều bà mẹ Việt khác cũng có được sự kiên trì, nhẫn nại với con, luôn dịu dàng với con, luôn là bạn của con, giành nhiều thời gian hơn để hiểu tâm lý con và bớt nóng nảy hơn trong chăm sóc, dạy dỗ con.
Nguyên An (Tây Ban Nha)