Thứ Hai, 9 tháng 4, 2012

Trung Quốc chuẩn bị 'đánh úp' biển Đông?


Bài đăng trên báo Đất Việt

Trung Quốc đang thay đổi thay đổi cách tiếp cận, tỏ ra mềm mỏng linh hoạt hơn
 trong các vấn đề tranh chấp lãnh hải tại biển Đông? Ảnh minh họa: China Daily.

Những sự kiện tranh cãi gần đây tại biển Đông và biển Hoa Đông giữa Trung Quốc và các láng giềng cho thấy Bắc Kinh “chứng nào tật ấy”, không bao giờ ngừng các hành động khiêu khích, thậm chí, có khả năng họ triển khai các cuộc tấn công bất thình lình trong các vùng lãnh hải tranh chấp.


Lùi một bước để tiến ba bước?


Các tranh chấp lãnh thổ gay gắt giữa Trung Quốc và các láng giềng ở biển Đông và Hoa Đông từ lâu trở thành chủ đề nóng và thu hút sự chú ý không nhỏ từ công chúng. Gần như tất cả các quốc gia trong khu vực và con rồng châu Á đều có những “vụ lùm xùm, ầm ĩ” liên quan đến tranh chấp lãnh thổ, từ Hàn Quốc và Nhật Bản cho tới Philippines và Việt Nam.


Muốn ổn định nội, ngoại để chuyển giao thế hệ lãnh đạo diễn ra suôn sẻ đồng thời, tống khứ Mỹ khỏi châu Á – Thái Bình Dương và xóa bỏ hình ảnh “xấu xí” của mình đối với các quốc gia trong khu vực, Trung Quốc tỏ ra mềm mỏng, linh hoạt hơn trong các vấn đề tranh chấp lãnh hải trong khu vực.


Một bài bình luận mới đây đăng trên Tạp chí Foreign Affairs của Mỹ nhận xét, Trung Quốc đang trở nên ôn hòa hơn, mềm dẻo và linh hoạt hơn trong các vấn đề liên quan đến biển Đông.


Sự thay đổi phương pháp tiếp cận của Bắc Kinh đến từ tháng 6 năm ngoái, được đánh dấu bởi sự kiện Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn của Việt Nam với tư cách là Đặc phái viên của Chính phủ Việt Nam sang Trung Quốc để hội đàm về các vấn đề tranh chấp lãnh hải giữa hai nước. 


Ngay sau đó, Trung Quốc và mười thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đàm phán thành công và bàn việc triển khai Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), liên quan  trực tiếp đến các tranh chấp lãnh hải ở biển Đông ứng xử một cách hợp lý dựa trên các nguyên tắc và luật lệ quốc tế hồi tháng 7/2011.


Đồng thời, đầu năm nay, Trung Quốc cũng có ý định triệu tập các hội thảo về hải dương học và tự do hàng hải ở biển Đông và muốn đối thoại với các quan chức cao cấp ASEAN để thảo luận về việc thực hiện Tuyên bố về ứng xử biển Đông năm 2002. 


Đáng chú ý là, các quan chức cấp cao hàng đầu của Trung Quốc - Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và Thủ tướng Ôn Gia Bảo - từng nhiều lần đề cập đến việc thực thi Bộ nguyên tắc chỉ đạo giải quyết các xung đột lãnh hải của Trung Quốc của nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình. Theo đó, các bên liên quan trực tiếp đến tranh chấp lãnh hải trên biển Đông gác lại những yêu sách chủ quyền của mình và cùng khai thác nguồn tài nguyên hàng hải.


Tuy nhiên, trên thực tế, Trung Quốc vẫn chứng nào tật ấy. Chỉ tính riêng tháng ba vừa qua, xảy ra hàng loạt các sự cố liên quan đế tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc với các quốc gia trong khu vực. Như tranh cãi nảy lửa giữa Bắc Kinh và Seoul liên quan đến bãi đá ngầm Iedo dẫn đến việc Hàn Quốc tuyên bố xây dựng nhiều căn cứ hải quân mới trên đảo Baeknyeong và Heuksan để đối phó với các hoạt động xâm nhập trái phép của tàu cá Trung Quốc. 


Bắc Kinh cũng đụng độ với Manlila liên quan đến kế hoạch xây cầu cảng nhằm "phát triển du lịch" ở đảo Thị Tứ thuộc quần đảo Trường Sa và tranh cãi với Hà Nội liên quan đến các động thái thăm dò dầu khí của Việt Nam và các đối tác – các tập đoàn dầu khí quốc tế - ngoài khơi xung quanh vùng lãnh hãi tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc. 


Thậm chí, tranh cãi giữa Việt Nam và Trung Quốc không chỉ dừng lại như là cuộc chiến ngôn từ. Trung Quốc không ít lần bắt giữ tàu cá và ngư dân Việt Nam một cách trái phép, chẳng hạn, vụ hai tàu cá cùng 21 ngư dân Việt Nam thuộc huyện đảo Lý Sơn bị Trung Quốc bắt vào ngày 3/3 vừa qua tại vùng biển Hoàng Sa và bị giam giữ từ đó đến nay.


Ầm thầm chuẩn bị tấn công bất thình lình?


Theo các báo cáo thăm dò và khảo sát của phương Tây và các quốc gia trong khu vực, Tây Thái Bình Dương chứa trữ lượng dầu và khí đốt vô tận. Trữ lượng tài nguyên ở khu vực này, trong các báo cáo thăm dò của Trung Quốc thậm chí, luôn cao hơn bất cứ báo cáo nào khác. Do đó, Bắc Kinh cho rằng nếu có thể kiểm soát được khu vực này, họ sẽ không phải đau đầu bận tâm về việc làm thế nào để thỏa mãn cơn thèm năng lượng của nền kinh tế, và do đó, vấn đề an ninh năng lượng sẽ được đảm bảo. Theo ước tính của Trung Quốc, dầu mỏ và khí đốt tự nhiên ở Tây Thái Bình Dương có thể đủ cho Trung Quốc “dùng xả láng” trong hơn 60 năm.


Với khoản tiền “khủng” theo các tuyên bố chính thức là 100 tỷ USD cho chi tiêu quốc phòng năm 2012 (nhiều nhà phân tích khẳng định con số thực còn cao hơn rất nhiều), Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) đang nỗ lực gia tăng sức mạnh và các khả năng cần thiết để các yêu sách liên quan đến các tranh chấp lãnh thổ trong khu vực và vấn đề an ninh năng lượng của Trung Quốc được đảm bảo và được tôn trọng.


Các thành tựu đáng kể trong công cuộc hiện đại hóa quân đội của Trung Quốc được thể hiện thông qua các tên lửa đạn đạo chống hạm mới – có khả năng buộc Mỹ phải suy nghĩ thận trọng trước khi quyết định đưa lực lượng vào giải cứu các đồng minh trong khu vực trong trường hợp một cuộc chiến giữa Trung Quốc và họ bùng lên.


Ngoài ra, Trung Quốc cũng không tiếc tiền của đầu tư mở rộng kho máy bay chiến thuật mặt đất và các tên lửa hành trình có cánh đối hạm chưa kể lực lượng tàu chiến và tàu ngầm hạt nhân cũng được chú trọng phát triển.


Không thể không kể đến sự gia tăng nhanh chóng của lực lượng tàu khu trục hải quân tàu đổ bộ mới cũng như các trực thăng mẫu hạm có khả năng chở hàng nghìn hải quân Trung Quốc nhanh chóng đổ bộ tới các hòn đảo tranh chấp.


Không dừng lại ở đó, nếu không có gì thay đổi, tháng 8 năm nay, Bắc Kinh sẽ đưa tàu sân bay đầu tiên mang tên Thi Lang vào hoạt động – gia tăng đáng kể sức mạnh hải quân của Trung Quốc.


Trong khi đó, hàng loạt các bài bình luận trên các phương tiện truyền thông chính thống của Trung Quốc, đáng chú ý nhất là tờ Global Times – cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản Trung Quốc, khái niệm về “các cuộc chiến quy mô nhỏ” gia tăng kể tăng kể từ năm 2011. 


Đáng chú ý, đầu tháng ba vừa qua, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo tuyên bố quân đội Trung Quốc cần chuẩn bị tốt hơn cho các "cuộc chiến tranh cục bộ".


Từ những dấu hiệu trên, hàng loạt các chuyên gia trong một bài phỏng vấn với Asia Times nhấn mạnh rằng tương lai, Trung Quốc có thể phát động các cuộc tấn công quân sự giới hạn.


Theo Steve Tsang, Giám đốc Viện chính sách Trung Quốc thuộc ĐH Nottingham, tin rằng Trung Quốc có thể khởi động một cuộc chiến bất thình lình và quy mô nhỏ nhằm vào Philippines và Việt Nam.


“Khởi động cuộc chiến chống lại Việt Nam chỉ làm an ninh ở Đông Nam Á và Đông Á bất ổn hơn. Trung Quốc không dễ chiến thắng Việt Nam. Dù vậy, họ rất có thể phát động một cuộc chiến như thế”, ông Steve Tsang nhấn mạnh. 


Ông Tsang cảnh báo, tấn công Việt Nam hoặc Philippines sẽ đẩy các quốc gia ASEAN đến chỗ phải tìm đến Mỹ cầu viện.


Tuy nhiên, ông Tsang nhấn mạnh, Hàn Quốc sẽ không phải là mục tiêu bất chấp các cuộc chiến ngôn từ gần đây với Trung Quốc sau vụ một quan chức Viện Hải Dương học nước này tuyên bố bãi đá ngầm Ieodo chắc chắn là một phần lãnh hải thuộc quyền tài phán của Trung Quốc. 


“Việc Trung Quốc tính chuyện triển khai hoạt động quân sự chống lại Hàn Quốc là quá nguy hiểm và không được bất cứ ai khoan dung. Mỹ có vai trò rất lớn ở đây và sẽ ngay lập tức gây áp lực lên Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc để ra một lệnh ngừng bắn”, ông Tsang tuyên bố thêm.


Trong khi đó, James Holmes, một Phó Giáo sư nghiên cứu Chiến lược của Học viện Chiến tranh Hải quân Mỹ nhận định Bắc Kinh có thể sẽ thành công nếu tấn công Philippines.


“Bắc Kinh sẽ khởi động bất cứ cuộc chiến tranh quy mô nhỏ nào khi có thể. Sức mạnh quân sự vượt trội của họ dựa trên các loạt vũ khí như tên lửa đạn đạo chống hạm sẽ mang lại ưu thế cho Trung Quốc trong suốt cuộc chiến”, ông Holmes giải thích.


Như vậy, rất có thể trong tương lai, biển Đông sẽ lại dậy sóng bởi các cuộc tấn công bất thình lình và quy mô nhỏ của Trung Quốc.
Bạch Dương (Tổng hợp)

Thứ Năm, 5 tháng 4, 2012

Chuyên gia Hoa kiều so sánh Su-27/30 của VN và TQ


Cùng chủng loại, giống nhau cơ bản về tính năng nhưng Su-27/30 của Việt Nam chỉ tập trung sức mạnh vào một số nhiệm vụ chứ không đa dạng như nguyên bản.
Trên đây là nhận định của ông Andrei Chang, một chuyên gia quân sự gốc Hoa mang quốc tịch Canada. Ông là một cây bút kỳ cựu của Tạp chí quân sự Khán Hòa có trụ sở tại Canada, từng có nhiều bài viết về dòng máy bay Sukhoi có trong biên chế của Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc của ông Andrei Chang:
Trong biên chế Không quân Việt Nam có khoảng 12 chiếc Su-27SK và 4 chiếc Su-27UBK, Trung Quốc có khoảng 78 chiếc Su-27SK nhập khẩu trực tiếp từ Nga và không có chiếc Su-27UBK nào. 

Đối với biến thể Su-30, Trung Quốc có trong biên chế khoảng 76 chiếc Su-30MKK, một biến thể Su-30MK phát triển riêng, ngoài ra, không quân hải quân nước này còn sở hữu 24 chiếc Su-30MK2. 

Tính đến năm 2012, Không quân Việt Nam sẽ có khoảng 32 chiếc Su-30MK2, biến thể được thiết kế cho nhiệm vụ đánh biển. Xét ở tiêu chí số lượng, Không quân Trung Quốc đang có sự áp đảo, tuy nhiên, ông Andrei Chang nhận định lợi thế không hoàn toàn thuộc về Trung Quốc.

Cùng chủng loại, giống nhau cơ bản về tính năng nhưng có sự khác biệt đáng kể trong trang bị vũ khí giữa các tiêm kích Su-30MK2 của Việt Nam và Trung Quốc.
Các hợp đồng mua sắm tiêm kích dòng Su-27/30 giữa Trung Quốc và Việt Nam với Nga có khá nhiều điểm khác nhau, đầu tiên là phương thức thanh toán, sau đó là một số khác biệt trong thiết kế.

Trong khi Trung Quốc gần như phải thanh toán 100% cho các hợp đồng mua máy bay bằng USD, các hợp đồng với Việt Nam lại hoàn toàn ngược lại. Theo đó, hợp đồng mua 4 chiếc Su-30MK2 đầu tiên của Việt Nam trị giá 110 triệu USD, trong đó 70% giá trị hợp đồng được thanh toán bằng hình thức trao đổi hàng hóa, Việt Nam chỉ phải trả 30% giá trị bằng ngoại tệ.

Tuy nhiên, đó chưa phải là điều quan trọng nhất, 4 chiếc Su-30MK2V được chuyển giao cho phía Việt Nam là một biến thể tương tự Su-30MKK của Trung Quốc nhưng các máy bay này lại được thiết kế cho nhiệm vụ chiếm ưu thế trên không, phần mềm tấn công của 4 máy bay này không được cài đặt mang tên lửa chống hạm.

Hy sinh khả năng đa nhiệm, tập trung vào nhiệm vụ chiếm ưu thế trên không sẽ tạo nhiều lợi thế cho Việt Nam trước một cuộc tập kích đường không nếu có.
Theo một nguồn tin chưa được xác nhận từ Nga, Việt Nam đã hy sinh khả năng đa nhiệm của Su-27SK mà chỉ tập trung vào nhiệm vụ không đối không nhằm tạo nên lợi thế trước lực lượng không quân hùng hậu của đối phương.

Do chỉ tập trung vào nhiệm vụ chiếm ưu thế trên không, hoặc không đối hải chứ không hoàn toàn đa dạng như nguyên bản, các máy bay Su-27, Su-30MK2 của Việt Nam sẽ có nhiều lợi thế hơn, ông Chang nhận định. 

Ông Chang lưu ý thêm, trong biên chế Không quân Việt Nam có hai chiếc Su-27PU được nhận trực tiếp từ Không quân Nga (bồi thường cho 2 chiếc Su-27SK bị rơi trên đường vận chuyển đến Việt Nam). Hai chiếc này chắc chắn có nhiều khác biệt so với các biến thể xuất khẩu.

Đến năm 2008, Việt Nam tiếp tục đặt hàng thêm 6 chiếc Su-30MK2V vào năm 2008, năm 2009 tiếp tục đặt hàng thêm 8 chiếc và đợt đặt hàng lớn nhất gần đây là 12 vào năm 2010. Tất cả các hợp đồng nói trên dự kiến sẽ chuyển giao đầy đủ cho Việt Nam vào năm 2012.

Những cải tiến nhỏ trong Su-30MK2 của Việt Nam là gì đang thu hút sự chú ý đặc biệt từ các chuyên gia quân sự nước ngoài.
Vấn đề được ông Chang lưu tâm là có sự khác biệt lớn nào giữa các máy bay Su-30MK2 của Việt Nam và Trung Quốc hay không?

Nguồn tin công nghiệp hàng không Nga chỉ tiết lộ, Su-30MK2 của Việt Nam chỉ có vài “cải tiến nhỏ”, vậy cải tiến nhỏ ở đây là những gì? 

Ông Chang cho rằng, những cải tiến nhỏ có thể cho phép máy bay Su-30MK2 của Việt Nam mang nhiều vũ khí hiện đại hơn so với Su-30MK2 của Trung Quốc, nhiệm vụ của các máy bay này là tập trung cho không đối hải.

Theo ông Chang, đường lối quân sự của Việt Nam chủ yếu tập trung vào nhiệm vụ ngăn chặn và phòng ngự. Một cuộc tấn công quân sự nhắm vào Việt Nam sẽ chỉ đến từ đường không hoặc đường biển, tập trung sức mạnh của các tiêm kích vào hai nhiệm vụ chính nói trên sẽ cho phép Việt Nam xây dựng một thế trận phòng ngự hiệu quả.

Với một lực lượng không quân nhỏ, ngay cả khi số lượng máy bay chiến đấu tiên tiến khá ít ỏi, nhưng nếu sử dụng đúng cách vẫn tạo ra một hiệu quả chiến đấu mạnh mẽ, đặc biệt nếu các máy bay này có khả năng tích hợp các hệ thống vũ khí hiện đại, ông Chang bình luận.

Ông Chang nhận định thêm, xét về đơn giá, Việt Nam đã mua máy bay Su-27SK với giá khoảng 31,5 triệu USD/chiếc. Đơn giá này cao hơn khoảng 3 triệu USD so với giá bán cho các quốc gia khác. Điều này có thể nhận định rằng các máy bay này có nhiều thiết bị hiện đại hơn mặc dù buồng lái vẫn theo kiểu những năm 1980.

Có sự khác biệt khá lớn về nguồn gốc các vũ khí trang bị cho Su-27/30 của Việt Nam và Trung Quốc, trong ảnh một tên lửa hành trình đối đất Kh-29T đang được gắn lên cánh Su-27SK của Không quân Việt Nam.
Đối với máy bay Su-30MK2, sau khi thực hiện đầy đủ các hợp đồng, Việt Nam là quốc gia có nhiều máy bay Sukhoi nhất ở Đông Nam Á và đứng thứ 3 ở khu vực châu Á, sau Trung Quốc và Ấn Độ. 

Sukhoi đã quyết định thành lập một trung tâm các máy bay Sukhoi tại Việt Nam để tiện cho việc bảo dưỡng cho Không quân Việt Nam và cả khu vực. (Thông tin này vẫn chưa được kiểm chứng vì theo một số nguồn tin, trung tâm nói trên đặt tại Malaysia, (>> chi tiết)

Trong khi đó, các máy bay Su-27SK, Su-30MK2 của Trung Quốc phải thực hiện các hoạt động bảo dưỡng gián tiếp qua Ukraine (do sao chép bất hợp pháp Su-27 để chế tạo J-11). Tương lai Trung Quốc phải tự bảo dưỡng các máy bay của mình, ngay cả những hoạt động sửa chữa lớn đều phải tự thực hiện.

Bên cạnh đó, sự thay đổi trong tương lai của các máy bay Su-27, Su-30MK2 của Việt Nam chủ yếu đến từ hệ thống vũ khí. 

Các máy bay Su-30MK2 của Việt Nam và Trung Quốc đều có khả năng mang tên lửa chống tàu Kh-31A, tên lửa hành trình không đối đất Kh-29TE tầm bắn 30km. Về vũ khí không đối không, cả hai bên đều được trang bị tên lửa không đối không tầm ngắn R-73, tên lửa không đối không tầm trung R-27. Trong khi Trung Quốc phải nhập khẩu tên lửa R-27T/R từ Ukraine thì Việt Nam lại được nhập khẩu các tên lửa này trực tiếp từ Nga. Loại tên lửa không đối không tầm trung hiện đại R-77 không được Nga bán cho cả hai bên.

Kết thúc bài viết của mình, ông Chang kết luận, lợi thế về số lượng đang nằm trong tay Trung Quốc nhưng lợi thế về sự đa dạng trong lựa chọn vũ khí hiện đại lại thuộc về Việt Nam.

Chỉ tập trung sức mạnh vào nhiệm vụ không đối không hoặc không đối hải có vẽ lỗi thời với xu hướng đa nhiệm của thế giới nhưng xét trên đường lối quân sự và những đối thủ tiềm tàng của Việt Nam thì đây là một lối đi hết sức đúng đắn, cho phép một số lượng máy bay khiêm tốn có thể bẽ gãy các đợt tấn công bằng đường không hay đường biển của đối phương. 
Theo Đất Việt Online

Chủ Nhật, 1 tháng 4, 2012

Việc đưa Hoàng Sa ra trọng tài quốc tế


Dương Danh Huy


Những sự kiện gần đây nói rõ lên sự nhức nhối của vấn đề Hoàng Sa đối với Việt Nam.
Ngày 30/3/2012, Bộ Ngoại giao Việt Nam phản đối chính quyền tỉnh Hải Nam tổ chức cuộc đua thuyền buồm “Cúp Ty Nam” xuất phát từ Tam Á đến quần đảo Hoàng Sa.

Tranh chấp lãnh thổ

Ngày 21/3/2012 Việt Nam đòi Trung Quốc thả vô điều kiện 21 ngư dân Việt Nam mà Trung Quốc đã bắt tại khu vực Hoàng Sa.
Ngày 15/3/2012 Việt Nam phản đối các hoạt động của Trung Quốc ở Hoàng Sa, bao gồm đấu thầu các lô dầu khí, thao dượt bắn đạn thật, và các hoạt động du lịch, văn hóa và thể thao.


Nan giải

Tranh chấp Hoàng Sa-Trường Sa-Biển Đông vốn đã là nan giải cho Việt Nam, nhưng trong các tranh chấp đó, tranh chấp Hoàng Sa là nan giải nhất. Thứ nhất, Trung Quốc đang chiếm đóng hoàn toàn Hoàng Sa. Thứ nhì, Trung Quốc không chịu công nhận rằng tồn tại tranh chấp chủ quyền trên quần đảo này. Thứ ba, trong tranh chấp với Trung Quốc về Hoàng Sa, Việt Nam hoàn toàn đơn độc.
Tranh chấp Hoàng Sa, không những đã là nan giải nhất, lại còn giữ chìa khóa cho một số tranh chấp khác ở Biển Đông.
Ở phía Bắc Biển Đông, Việt Nam và Trung Quốc đang trong quá trình đàm phán phân định khu vực ngoài của vịnh Bắc Bộ. Cùng lắm hai bên chỉ có thể phân định một phần khu vực này, trước khi đường phân định tiến đến gần quần đảo Hoàng Sa, khi quan điểm đối kháng của hai bên về quần đảo này sẽ làm cho không thể tiếp túc việc phân định biển. Như vậy, tranh chấp Hoàng Sa sẽ làm bế tắc việc phân chia biển từ phía Bắc Biển Đông.
Ở phía Nam Biển Đông, một trong những giải pháp có hứa hẹn cho việc quản lý tranh chấp là xác định phạm vi vùng biển thuộc tranh chấp Trường Sa. Bên ngoài vùng tranh chấp đó sẽ dứt khoát thuộc về Việt Nam hoặc Indonesia, Malaysia, Brunei, Philippines. Bên trong vùng tranh chấp thì các nước trong tranh chấp sẽ phải tìm một giải pháp tạm thời nào đó để quản lý tranh chấp cho đến khi tranh chấp Trường Sa được giải quyết hoàn toàn.
Bất kể mỗi người chúng ta có quan điểm thế nào về giải pháp khai thác chung vùng tranh chấp Trường Sa đi nữa, điều không thể chối cãi được là nếu Trung Quốc được khai thác chung vùng Trường Sa trong khi không chấp nhận cho Việt Nam khai thác chung vùng Hoàng Sa thì điều đó sẽ là vô cùng cay đắng cho Việt Nam.

Gạt khỏi đàm phán?


Với thế mạnh của Trung Quốc, khả năng là trong tương lai họ sẽ đòi hỏi gạt Hoàng Sa ra khỏi đàm phán với ASEAN bằng cách đề cập đến Trường Sa một cách cụ thể nhưng không đề cập đến Hoàng Sa. Và khả năng là các nước ASEAN kia sẽ không ủng hộ Việt Nam trong việc chống lại đòi hỏi đó, có nghĩa Việt Nam sẽ ngày càng cô độc trên bàn đàm phán trong vấn đề Hoàng Sa.
 Việt Nam cần những biện pháp khác hơn là chỉ phản đối 'chay'?
Tranh chấp Hoàng Sa cũng không phải là mối quan tâm của các nước ngoài khu vực. Họ có thể lên tiếng về tranh chấp biển hay tranh chấp Trường Sa, nhưng hầu như không lên tiếng về Hoàng Sa.
Không ít bản đồ trên thế giới ghi Hoàng Sa là của Trung Quốc. National Geographic Society đã từng làm điều đó, nhưng sửa lại sau khi Việt Nam phản đối. Google Maps hiện nay cũng đang ghi Hoàng Sa là của Trung Quốc.
Giới học giả quốc tế biết rõ là Hoàng Sa là lãnh thổ trong tình trạng tranh chấp chủ quyền, nhưng họ đề cập đến hay phân tích tranh chấp Hoàng Sa ít hơn so với tranh chấp Trường Sa hay tranh chấp biển.
Trong bối cảnh đó thì trả lời của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng cho Quốc hội, “Việt Nam chủ trương đàm phán giải quyết, đòi hỏi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình”, rất khó thực hiện. Một bên thì chủ trương đàm phán giải quyết, bên kia thì cho rằng không có gì để giải quyết, đàm phán: nếu như thế mãi thì không thể đi đến đâu. Không những thế, dù có đàm phán thì đàm phán cũng khó có thể làm cho Trung Quốc trả Hoàng Sa lại cho Việt Nam.

Trọng tài

"Trong bối cảnh đó thì trả lời của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng cho Quốc hội, “Việt Nam chủ trương đàm phán giải quyết, đòi hỏi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình”, rất khó thực hiện. "
Nơi duy nhất có thể làm cho Trung Quốc trả Hoàng Sa lại cho Việt Nam là trước một trọng tài. Nhưng Trung Quốc không chấp nhận đưa tranh chấp cho trọng tài phân xử. Trong Thỏa thuận về những Nguyên tắc Cơ bản Chỉ đạo Giải quyết Vấn đề trên Biển với Trung Quốc, Việt Nam cũng đồng ý “Đối với tranh chấp trên biển giữa Việt Nam-Trung Quốc, hai bên giải quyết thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị”, tức là không đưa tranh chấp Hoàng Sa cho trọng tài. Như vậy thì không thể nào đòi lại được Hoàng Sa. Cách cần thiết để đòi lại Hoàng Sa là chọn thời điểm thích hợp và thách Trung Quốc đưa tranh chấp chủ quyền ra trước một trọng tài.
Theo một số nguồn tin, khi Việt Nam và Trung Quốc tranh cãi về số phận của các ngư dân Việt Nam, phía Việt Nam đã khẳng định rằng Hoàng Sa là của Việt Nam và nếu Trung Quốc có quan điểm khác thì hai bên có thể đưa vấn đề ra tòa án quốc tế, và phía Trung Quốc đã im lặng không trả lời. Việt Nam cần phải chọn thời điểm thích hợp và thách Trung Quốc thường xuyên hơn, công khai hơn.
Cho đến ngày xa vời khi Trung Quốc chấp nhận đưa tranh chấp chủ quyền đối với Hoàng Sa ra trước một trọng tài, Việt Nam cần tìm các phương án để quản lý tranh chấp, không để cho Trung Quốc hoàn toàn thao túng và mình thì chỉ phản đối chay.
Một trong những phương án cần xem xét là đưa việc Trung Quốc bắt ngư dân và các hoạt động dầu khí của Trung Quốc trong khu vực Hoàng Sa ra cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS theo quy trình sau:
Việt Nam sẽ viện thủ tục bắt buộc trong các Điều 286-296 của UNCLOS để đưa ra cho một trong những trọng tài mà UNCLOS quy định vấn đề: Yêu cầu trọng tài xác định phạm vi vùng biển bị tranh chấp vì tranh chấp Hoàng Sa tồn tại, với mục đích trả lời câu hỏi “Các hoạt động của Trung Quốc làm có nằm trong vùng biển bị tranh chấp hay không?”
Trung Quốc sẽ viện Điều 298 và khước từ với lý do họ đã bảo lưu quyền không chấp nhận dùng thủ tục bắt buộc để giải quyết các vấn đề ranh giới biển.
Việt Nam sẽ tiếp tục theo đuổi với lập luận rằng, theo Điều 298, để bảo lưu quyền không chấp nhận dùng thủ tục bắt buộc để giải quyết các vấn đề ranh giới biển, Trung Quốc phải chấp nhận thủ tục hòa giải của UNCLOS.
"Cho đến ngày xa vời khi Trung Quốc chấp nhận đưa tranh chấp chủ quyền đối với Hoàng Sa ra trước một trọng tài, Việt Nam cần tìm các phương án để quản lý tranh chấp, không để cho Trung Quốc hoàn toàn thao túng và mình thì chỉ phản đối chay."
Để tránh thủ tục hòa giải, Trung Quốc phải viện lý do Hoàng Sa là lãnh thổ trong tình trạng tranh chấp chủ quyền nên họ không bắt buộc phải chấp nhận thủ tục hòa giải của UNCLOS.
Trước hết, việc Trung Quốc công nhận Hoàng Sa là lãnh thổ trong tình trạng tranh chấp chủ quyền sẽ là một điều có lợi cho Việt Nam hơn là họ khăng khăng rằng không tồn tại tranh chấp chủ quyền trên quần đảo này.
Thứ nhì, Việt Nam có thể bác bỏ lập luận của Trung Quốc với lý do: để giải quyết vấn đề “xác định phạm vi vùng biển bị tranh chấp vì tranh chấp Hoàng Sa tồn tại” đưa ra trước trọng tài, không cần phải giải quyết tranh chấp đảo, cho nên Trung Quốc bắt buộc phải chấp nhận thủ tục hòa giải của UNCLOS.
Nếu thủ tục hòa giải của UNCLOS dẫn đến kết luận rằng các hoạt động của Trung Quốc, bao gồm cả xâm phạm bắt ngư dân Việt Nam, xảy ra trong vùng biển đang bị tranh chấp (chứ không phải là của Trung Quốc) thì quan điểm của Việt Nam rằng Trung Quốc không có quyền xâm phạm ngư dân Việt Nam, không có quyền khai thác dầu khí, sẽ được bênh vưc.
Giả sử như trọng tài của UNCLOS có khước từ giải quyết vấn đề Việt Nam đưa ra với lý do Hoàng Sa là lãnh thổ trong tình trạng tranh chấp chủ quyền đi nữa, thì mệnh đề “Hoàng Sa là lãnh thổ trong tình trạng tranh chấp chủ quyền” của trọng tài cũng sẽ bác bỏ quan điểm của Trung Quốc rằng không tồn tại tranh chấp Hoàng Sa.
Cả hai điều trên đều có thể làm cho Trung Quốc bớt ngang ngược về khu vực và quần đảo Hoàng Sa. Điều đó sẽ góp phần bảo vệ ngư dân và cho việc tìm biện pháp quản lý tranh chấp. Nó cũng góp phần khuyến khích các công ty dầu khí quốc tế không hợp tác với Trung Quốc trong vùng biển có tranh chấp, và khuyến khích các nhà xuất bản bản đồ không ghi Hoàng Sa là của Trung Quốc.
Với tình hình Hoàng Sa bất lợi cho Việt Nam như hiện nay và trong tương lai, các nhà hoạch định chính sách Việt Nam nói riêng và trí thức Việt Nam nói chung cần phải nghiên cứu và phân tích các phương cách khác nhau để đưa vấn đề Hoàng Sa ra trước một trọng tài quốc tế.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, một nhà nghiên cứu về Biển Đông hiện sống tại Oxford, Anh Quốc.

Thứ Hai, 26 tháng 3, 2012

'Hai vị Vua' ở Quân cảng Cam Ranh

Đến Cam Ranh lần này, chúng tôi không có ý định tìm hiểu nhiều về lịch sử của quân cảng mệnh danh là “pháo đài bên bờ Thái Bình Dương”. Chúng tôi đến đây để "yết kiến" hai vị "vua".


Sáng mờ sương, chiếc xe loại UAZ 469 huyền thoại chở chúng tôi xuyên qua những trảng cát lúp xúp bụi cây, những đầm phá nhỏ xen giữa các triền đồi thấp. Sau chừng 20 phút chạy từ sân bay Cam Ranh, đã thấy trước mặt một vùng trời nước. Vịnh Cam Ranh tĩnh lặng như nàng tiên nằm ngủ yên lành giữa những triền núi thẳm xanh, dù phía xa kia Biển Đông không ngơi sóng gió.

Vịnh Cam Ranh - Địa thế chiến lược

Đặc trưng địa lý khu vực Đông Nam Á với thềm lục địa ngắn, dốc, biển ăn sâu vào đất liền thể hiện rất rõ nơi vùng đất này. Biển đang mênh mông, khi vào đến đây chợt gặp bán đảo Cam Ranh như cánh tay vươn dài, với núi Ao Hồ thuộc phần nam của dãy núi Đồng Bò sừng sững, cao gần 500m án ngữ, bao bọc lấy một vùng nước rộng bên trong. 

Dường như thấy rằng chừng ấy cũng chưa đủ chở che, thiên nhiên đã kiến tạo thêm một hòn đảo nằm ở đầu mút bán đảo Cam Ranh – đảo Bình Ba, án ngữ nơi cửa vịnh cùng tên. Ở phần cuối vịnh Bình Ba về hướng tây bắc, biển đột nhiên thu hẹp lại thành một eo nước nhỏ, hai bên là hai mũi đất cao – Mũi Điện và Mũi Hời. Xuyên qua eo Bé là vịnh Cam Ranh mênh mông, thẳm sâu nhưng tĩnh lặng.

Thiên nhiên đã dành cho Cam Ranh một thế núi biển ngọa hổ tàng long. Thế nên, từ lâu vùng đất hiểm trở này đã được sử dụng vào mục đích quân sự. Sau khi khởi sự công cuộc thực dân tại Đông Dương vào nửa cuối thế kỷ 19, người Pháp đã chọn Cam Ranh để xây dựng quân cảng. 

Trong cuộc chiến tranh Nga – Nhật hồi đầu thế kỷ 20, khi quân Nga liên tiếp thất trận ở Thái Bình Dương, Nga hoàng Nicholas II đã lệnh cho Đô đốc Zinovy Rozhestvensky chỉ huy Hạm đội Baltic sang Thái Bình Dương tiếp viện. 

Đội tàu Baltic đã làm một chuyến hải trình từ Đại Tây Dương xuống cực nam châu Phi rồi vòng lên Ấn Độ Dương. Sau khi vào Biển Đông, vào năm 1905, Đô đốc Rozhestvensky đã chọn Cam Ranh làm nơi đồn trú trong chừng một tháng trời để chuẩn bị cho trận hải chiến tại eo biển Tushima.

Khi bóng dáng những chiến hạm của Nga vừa khuất giữa mịt mù sóng nước Biển Đông cũng là lúc người Pháp ráo riết biến Cam Ranh từ một quân cảng nho nhỏ thành căn cứ quân sự lớn, phục vụ cho các chiến dịch thực dân khắp Đông Nam Á. 




Hình vẽ minh họa hoạt động nhộn nhịp của tàu chiến Hải quân Liên Xô tại vịnh Cam Ranh.

Kể từ giờ phút đó, Cam Ranh với địa thế đắc địa hiếm hoi bên bờ Biển Đông luôn giữ vai trò là quân cảng quan trọng của Pháp. 

Sau này, người Mỹ cũng đã xây dựng Cam Ranh thành căn cứ không quân, hải quân lớn nhất khu vực Đông Nam Á. Lúc cao điểm, có tới hơn 30.000 quân Mỹ và đồng minh cùng các đội tàu khu trục, hộ tống, tàu đổ bộ và máy bay tuần tra, tiêm kích, cường kích đóng ở Cam Ranh.

Sau ngày đất nước thống nhất, Cam Ranh dần trở thành một căn cứ quân sự lớn của Liên Xô, làm thế đối trọng với quân Mỹ tại căn cứ Subic ở Philippines. 

Vào thời điểm năm 1986, có tới hơn 6.000 người Nga bao gồm quân nhân, kỹ sư, công nhân đóng tại Cam Ranh, kèm theo đó là một đội tàu hùng mạnh, với khu trục hạm, tiểu khu trục, tàu hộ tống, tàu ngầm hạt nhân và tàu cao tốc. 

Tháng 5/2002, quân nhân Nga cuối cùng rời Cam Ranh, chấm dứt thời kỳ hiện diện của các lực lượng quân sự nước ngoài tại quân cảng này. Người Nga rời đi, nhưng Cam Ranh với thế núi chở che biển cả vẫn giữ nguyên giá trị chiến lược đặc biệt của mình.

Đến Cam Ranh lần này, chúng tôi không có ý định tìm hiểu nhiều về lịch sử của quân cảng vốn được mệnh danh là “pháo đài bên bờ Thái Bình Dương”. Chúng tôi đến đây để “yết kiến” hai vị vua Đinh Tiên Hoàng và Lý Thái Tổ. Tên của hai vị hoàng đế thuộc thời kỳ đầu của kỷ nguyên độc lập dân tộc giờ đây được đặt tên cho hai chiến hạm tối tân nhất của một lực lượng Hải quân đang trên đường hiện đại hóa – hai tàu hộ vệ tên lửa lớp Gepard 3.9.

"Hai vị vua" ở Cam Ranh

Khi chiếc UAZ 469 còn ở trên triền dốc xa, chúng tôi đã thấy bóng dáng những chiếc tàu xám trên nền nước ửng hồng buổi bình minh. Có thể dễ dàng nhận ra hai chiến hạm Đinh Tiên Hoàng và Lý Thái Tổ qua vóc dáng đồ sộ, cũng như lớp vỏ thép nhẵn nhụi vốn là đặc trưng của những tàu chiến tàng hình, nằm giữa những chiến hạm nhỏ hơn, thuộc các lớp Molniya, đậu theo đội hình gần đấy.

Tàu Gepard 3.9 được đóng tại Nhà máy Zelenodolsk ở nước Cộng hòa Tatarstan thuộc Nga. Đây là loại tàu chiến hiện đại, có khả năng tàng hình và hỏa lực rất mạnh, với hệ thống vũ khí chống ngầm, chống hạm và phòng không ứng dụng các công nghệ mới nhất. Tàu được thiết kế để chịu các điều kiện đại dương khắc nghiệt nhất và có thể hoạt động liên tục trong nhiều ngày liền. Hiện nay, chỉ mới có Nga – nước sản xuất – và Việt Nam đưa vào biên chế hải quân loại tàu này.

Chiếc Gepard 3.9 đầu tiên chính thức được biên chế vào Lữ đoàn 162 thuộc Bộ Tư lệnh Vùng 4 Hải quân đóng tại Cam Ranh vào tháng 3/2011 và được đặt tên theo người anh hùng đã bình định 12 sứ quân để lên ngôi vua – Đinh Tiên Hoàng. 



"Hai vị vua" tuần tra bảo vệ biển đảo Việt nam.

Chiếc thứ hai được biên chế vào cùng đơn vị hồi tháng 8/2011, và mang tên vị vua dời đô Lý Thái Tổ. Như vai trò của hai vị hoàng đế thuộc thời kỳ đầu của kỷ nguyên độc lập, hai chiến hạm Gepard 3.9 mang tên Đinh Tiên Hoàng và Lý Thái Tổ đóng vai trò tiên phong trong công cuộc hiện đại hóa quốc phòng của Việt Nam, với ưu tiên hướng tới Hải quân và Không quân. 

Chủ trương này đã được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng – Đại tướng Phùng Quang Thanh nêu rõ vào ngày 3/8/2011: “Phương hướng xây dựng quân đội sẽ theo hướng cách mạng, chính quy tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trong đó Hải quân, Phòng không – Không quân, Thông tin liên lạc, Tác chiến điện tử… đi thẳng vào hiện đại để bảo vệ đất nước”.

Quân đội sẽ từng bước được hiện đại, riêng Hải quân và Không quân sẽ được hiện đại hóa nhanh chóng. Trong xu hướng đó, sắp tới đây, các chiến hạm Gepard tân tiến hơn, với các tính năng chiến đấu mạnh mẽ hơn, sẽ được bổ sung vào lực lượng Hải quân Việt Nam. Song song đó là các nỗ lực tự chế tạo tàu chiến và tên lửa đã, đang và sắp được triển khai. 

Lúc tới thăm quân cảng Cam Ranh, chúng tôi đã tận mắt chứng kiến không khí hối hả trên công trường xây dựng căn cứ cho tàu ngầm lớp Kilo. Sau vài năm nữa, một lữ đoàn tàu ngầm hiện đại sẽ chính thức ra mắt tại đây, như chính tuyên bố của Đại tướng Phùng Quang Thanh vào ngày 3/8/2011: “Trước mắt, trong 5, 6 năm tới, ta sẽ có một lữ đoàn tàu ngầm với 6 tàu hiện đại”.

Huấn luyện làm chủ Gepard 3.9

Trong căn phòng nhỏ nằm giữa thân chiến hạm Lý Thái Tổ, Thượng úy Nguyễn Hải Dương dán mắt vào màn hình radar, bên tai anh, chốc chốc lại vang lên khẩu lệnh của Thuyền phó – Thiếu tá Nguyễn Đình Giảng từ phòng chỉ huy trên cao vọng về: “Mạn phải 30, góc tầm 45, mục tiêu bay vào…”. 

Trên màn hình xuất hiện tín hiệu chiếc máy bay mục tiêu lúc này đang đảo vòng trên bầu trời vịnh Cam Ranh. Chiếc máy bay lúc ẩn lúc hiện, như cố tìm cách thoát ra khỏi “vùng phủ sóng” của radar, nhưng bất kể thế nào, Dương và tổ chiến đấu của anh vẫn khóa chặt được “con mồi”. Nếu đây là thực tiễn chiến đấu, chàng sĩ quan trẻ chỉ cần nhấn nút phát hỏa là mục tiêu bị hạ.

Nguyễn Hải Dương vốn là học sinh chuyên toán ở Nghệ An. Thế rồi tình yêu biển đã thôi thúc anh gia nhập Hải quân. Sau khi ra trường, anh nhanh chóng trở thành một chuyên gia súng pháo, tên lửa cừ khôi trên các tàu tên lửa. 

Chuẩn bị cho tiến trình hiện đại hóa Hải quân nhanh chóng, Nguyễn Hải Dương cùng nhiều sĩ quan thuộc thế hệ trên dưới 30 tuổi như anh đã được chọn đào tạo bài bản để tiếp nhận loại tàu chiến hiện đại Gepard 3.9. Từ khi lên tàu mới, Dương như chú đại bàng biển mọc thêm cánh. Những kỹ năng chiến đấu của anh và đồng đội không ngừng được hoàn thiện. Chỉ sau một thời gian ngắn, Dương và đồng đội đã làm chủ được con tàu.

Trong chừng hai tiếng đồng hồ, lực lượng trên hai chiến hạm Lý Thái Tổ và Đinh Tiên Hoàng đã thực hành bài bắn hạ mục tiêu trên không. Mục tiêu là một chiếc tàu lượn bay rất cao, ẩn hiện giữa những quầng mây xám trên biển. Các vị trí chiến đấu từ chỉ huy tàu, sĩ quan tín hiệu, sĩ quan cao xạ, súng, pháo, radar và tên lửa đã phối hợp với nhau nhuần nhuyễn, dồn tất cả hỏa lực vào mục tiêu. 


Thuyền phó Nguyễn Đình Giảng trên buồng chỉ huy.

Thuyền phó Nguyễn Đình Giảng cho biết: “Đinh Tiên Hoàng, Lý Thái Tổ thuộc thế hệ tàu chiến hiện đại, có khả năng tác chiến độc lập trên biển rất cao. Chiến thuật được áp dụng với loại tàu này cũng có nhiều khác biệt so với truyền thống.

Thế nên, việc đào tạo cho các sĩ quan chỉ huy là rất quan trọng. Anh em chúng tôi ở đây đều là những sĩ quan từng kinh qua các lớp tàu tên lửa thế hệ trước, giờ được đào tạo rất kỹ càng ở trong và ngoài nước nên làm chủ phương tiện rất nhanh. Sau hai năm đào tạo, giờ đây từ sĩ quan chỉ huy tàu tới sĩ quan các bộ phận đều đã thành thạo các kỹ năng chiến đấu”. 

Còn Thượng tá Đỗ Quốc Tuấn – Thuyền trưởng tàu Đinh Tiên Hoàng chia sẻ: “Không chỉ tiếp thu các thao tác kỹ thuật để điều khiển tàu từ các chuyên gia Nga, anh em còn dịch thuật tài liệu, nghiên cứu các bài tập chiến thuật mới để hoàn thiện kỹ năng chiến đấu. Trên cơ sở chiến thuật của nước ngoài, chúng tôi kết hợp với chiến thuật của Việt Nam, đặc biệt là từ kinh nghiệm chiến đấu của các thế hệ cha anh, để áp dụng vào loại tàu chiến hiện đại này”.



Luyện tập bắn mục tiêu trên không.

Rời quân cảng Cam Ranh vào buổi chiều muộn, khi buổi thao luyện vừa kết thúc, chúng tôi cảm nhận được nhiệt tình và quyết tâm của các anh qua từng cái bắt tay chắc nịch. Từ những chiếc “xuồng tên lửa”, giờ đây các anh đã bước lên những chiếc tàu chiến tối tân, đại diện cho một lực lượng Hải quân Việt Nam hiện đại.

Từ chốn cỏ lau, Đinh Bộ Lĩnh đã dấy binh dẹp loạn, lên ngôi hoàng đế, đem thái bình thịnh trị khắp cõi trời nam, đặt nền móng vững chắc cho một quốc gia độc lập. Lý Thái Tổ dời đô từ chốn chật hẹp ra chỗ mênh mông, cũng với quyết tâm tạo nên một chỗ đứng vững chắc, một vị thế đĩnh đạc cho nước nhà trong bối cảnh vừa thoát khỏi sự đô hộ của phương Bắc.

Trên tinh thần đó, hai chiến hạm Gepard 3.9 ở quân cảng Cam Ranh, mang hiệu hai vị hoàng đế thuộc thời đầu của kỷ nguyên độc lập dân tộc, là một minh chứng cho quyết tâm không gì lay chuyển được, là biểu trưng cho ý nguyện của toàn dân Việt Nam trong việc bảo vệ vững chắc từng tấc đất, tấc biển mà cha ông ngàn xưa để lại.


Tên vịnh Cam Ranh có nghĩa là “bến nước ngọt”, nằm ở cực Nam của tỉnh Khánh Hòa phía Nam Việt Nam, là đỉnh tột cùng nhô ra nổi bật nhất của đường bờ biển hình vòng cung phía Đông Nam Việt Nam, là vị trí yết hầu chiến lược kiểm soát cả Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. 

Khoảng cách từ vị trí này đến tuyến hàng hải quốc tế ở hai đại dương nói trên chỉ bằng hải trình một tiếng đồng hồ, vì thế Cam Ranh có vị trí chiến lược hết sức đắc địa, từ trước đến nay vẫn luôn là vị trí giành giật tất yếu của các nhà quân sự. 

Vịnh Cam Ranh bốn bề được bao bọc bởi một quần thể núi đá cao khoảng 400m, ăn sâu vào đất liền 17km, rộng 6km, diện tích thủy vực rộng hơn 100km2. Độ sâu trong vịnh bình quân từ 16 đến 25m, chỗ sâu nhất đến 32m, là một trong những cảng nước sâu tự nhiên có giá trị nhất thế giới. 

Trong vịnh có thể đỗ được hàng trăm tàu cỡ lớn hàng vạn tấn, kể cả tàu sân bay. Nội cảng được phân thành hai khu vực là cảng quân sự và cảng thương mại, trong đó cảng quân sự nằm ở thị trấn Cam Ranh bờ phía đông, sâu 14m, có 6 cầu tàu chính, xưởng đóng tàu có thể sửa chữa các tàu cỡ lớn và đóng tàu cỡ nhỏ, còn có kho chứa dầu, kho đạn dược và kho quân nhu đảm bảo cơ sở vật chất, hệ thống trinh sát điện tử và thông tin cũng tương đối hoàn thiện. Khu ngoại cảng hay còn gọi là đảo Bình Ba, sâu trung bình từ 10 đến 22m, tương đối thuận tiện, có đường sắt và đường bộ liền nhau.
Bài đăng trên baodatviet.vn

Thứ Sáu, 23 tháng 3, 2012

Điều gì xảy ra khi Việt Nam cải tiến tên lửa X-35?


Việt Nam sản xuất được cả một con tàu chiến hiện đại như TT400TP thì việc sản xuất quả tên lửa X-35 có gì là to tát? Không phải vậy! Tuy nó nhỏ thật, nhưng ảnh hưởng của nó mang tầm chiến lược. Tuy nó nhỏ, nhưng khi có nó, bắt buộc kế hoạch tác chiến của đối phương phải thay đổi.



Điều đầu tiên, đương nhiên Việt Nam qua đó sẽ tự chủ được số lượng tên lửa. Khi có đủ tên lửa, Việt Nam chủ động triển khai thế trận phòng thủ phù hợp theo nhu cầu của chiến thuật.

Tất cả các hải đảo tiền tiêu là những bệ phóng tuyệt vời, ít tốn kém nhất và với đường lối, nghệ thuật chiến tranh nhân dân thì tên lửa diệt hạm X-35 thực sự là vũ khí tác chiến phi đối xứng hiệu quả.

Tuy nhiên, do Nga chế tạo ra tên lửa X-35 là để đáp ứng chiến thuật tác chiến nào đó trong nghệ thuật quân sự Nga nên khi xuất khẩu thì tất nhiên, sẽ tồn tại một số vấn đề chưa đáp ứng với yêu cầu chiến thuật của Việt Nam. Chẳng hạn như:

- Tầm bắn của tên lửa chưa đủ xa, do đó buộc các phương tiện bay mang tên lửa phải đi vào vùng hoạt động của hệ thống phòng không tầm xa của đối phương.

- Tốc độ bay của tên lửa tương đối thấp, do đó khả năng bị hỏa lực phòng không của tàu đối phương đánh chặn là tương đối cao.

- Hệ thống điều khiển tên lửa chưa cho phép tên lửa có khả năng tấn công các mục tiêu trên bờ biển và vào sâu trong đất liền.

Nhưng tên lửa diệt hạm X-35 có một đặc điểm là nó cho phép cải tiến nâng cấp không giới hạn, như có thể sử dụng nhiên liệu có hiệu năng cháy tốt hơn sẽ làm tăng tầm bắn của tên lửa…

Đây là điều mà khi hợp tác sản xuất với Nga, Việt Nam không thể không tính đến và Việt Nam cũng đã có thừa kinh nghiệm trong lĩnh vực này.

Tên lửa chống tàu X- 35 trên bờ.
Tên lửa chống tàu X- 35 trên bờ.

Nếu những điều này khi sản xuất mà được giải quyết thì chắc chắn khả năng phòng thủ hướng biển từ xa được nâng cao.

Nội lực phòng thủ của đảo khi có sự xuất hiện của X-35 được tăng lên gấp bội. Địch không thể tiếp cận gần hơn khi tấn công trong tầm tiêu diệt của X-35, cho nên sẽ kéo theo một loạt điều bất lợi khi tác chiến.

Sự lợi hại của X-35 không chỉ ở phòng thủ mà đây là một loại vũ khí phi đối xứng phi tiêu chuẩn, vô cùng nguy hiểm, đặc biệt khi nó trong tay Việt Nam với hình thức tác chiến phi đối xứng kiểu Việt Nam.

Tác chiến phi đối xứng (TCPĐX) là sử dụng cách đánh bất ngờ, nhằm tiêu hao lực lượng sinh lực của đối phương.

Một trong những yêu cầu quan trọng và có ý nghĩa quyết định là xương sống cho TCPĐX là các hệ thống vũ khí phục vụ cho TCPĐX phải đảm bảo được các yêu cầu: Hỏa lực mạnh, chi phí thấp, dễ sử dụng, tính linh hoạt cao trong bố trí tác chiến, trong vận chuyển và dễ dàng để ngụy trang nhằm tạo ra hiệu quả tác chiến tối ưu.

TCPĐX, thuật ngữ này mới xuất hiện gần đây trong cuộc đối đầu bởi lực lượng khủng bố, phiến quân với lực lượng Mỹ và NATO. Về quy mô, tổ chức nó không tầm cỡ như chiến tranh du kích mặc dù nó có lối đánh giống với lối đánh du kích.

Với Việt Nam thì TCPĐX là một thành tố trong nội hàm là chiến tranh du kích mà thôi. Bởi vậy, thay vì hình thức tác chiến phi đối xứng tồn tại biệt lập, đơn lẻ trong một cơ quan tổ chức chiến tranh lỏng lẻo thì ở Việt Nam nó được tồn tại trong một cuộc chiến tranh nhân dân có tổ chức cao (cấp Nhà nước) với nhiều hình thức tác chiến kể cả hiện đại, có sự hợp đồng tác chiến chặt chẽ với các lực lượng trên toàn chiến trường.

Tên lửa chống tàu X- 35 trên bờ
Tên lửa diệt hạm X- 35 trong thùng container 20'. Phương án tác chiến phi đối xứng trong chiến tranh du kích hiện đại trên biển là bãi lầy nguy hiểm cho bất cứ con voi xâm lược nào nếu muốn sa lầy.

Vì vậy, hậu quả mà tác chiến phi đối xứng gây ra cho đối phương cũng mang tầm vóc lớn hơn. Nó không chỉ tiêu hao sinh lực địch mà còn là một trong nhiều đòn tấn công góp phần làm thất bại một chiến dịch, một chiến lược tiến đến một cuộc chiến tranh do địch gây ra.

Với chúng ta, hình thức tác chiến phi đối xứng này được phát triển lên một tầm cao mới theo bản sắc nghệ thuật quân sự Việt Nam. Đây là một thách thức nguy hiểm nữa mà bất kỳ quốc gia nào lăm le tấn công xâm lược Việt Nam phải tính tới.

Không còn nghi ngờ gì nữa, tên lửa diệt hạm X-35 là loại vũ khí mang đầy đủ, trọn vẹn những tiêu chí mà hình thức tác chiến phi đối xứng đặt ra.

Rõ ràng, Việt Nam có thể sản xuất ra hàng trăm, thậm chí hàng ngàn quả tên lửa X-35 nhưng khó có thể sản xuất được vài chiếc tàu khu trục hạm dạng Gepard 3.9, trong khi một vài quả X-35 trúng mục tiêu thì khu trục hạm hiện đại cỡ như Gepard 3.9 hay tương đương cũng sẽ phải yên nghỉ dưới đáy đại dương. Vậy thì quan tâm đến điều này chẳng có gì là ngạc nhiên.

Với loại tên lửa diệt hạm X-35 mà Việt Nam tự chủ được số lượng, cải tiến nâng cao; với các loại vũ khí mà Việt Nam đang mua sắm chuẩn bị khác nữa, liệu Việt Nam có biến hình thức tác chiến phi đối xứng thành một bí kíp kinh điển cho các nước nghèo chống xâm lược hay không?.

Qua 4 cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc tiến hành liên tục ròng rã hơn 30 năm của Việt Nam với những thế lực hùng mạnh nhất trên thế giới, chắc lẽ cũng đã có nửa câu trả lời.


Lê Ngọc Thống/phunutoday