Thứ Ba, 10 tháng 8, 2010

Bài phát biểu của bà Hillary Clinton tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia

Ngày 23-07-2010

Chào tất cả mọi người . Hôm nay tôi hoàn tất chuyến đi thứ năm của tôi đến châu Á kể từ khi trở thành ngoại trưởng. Hôm qua, tôi đến Việt Nam và tôi được vinh dự có mặt ở đây để kỷ niệm 15 năm ngày bình thường hóa quan hệ ngoại giao của chúng ta. Ngày hôm trước, tôi đã ở Seoul, chuyến thăm thứ ba của tôi đến Nam Hàn với tư cách ngoại trưởng. Bộ trưởng Gates và tôi đã gửi thông điệp mạnh mẽ rằng 60 năm sau khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, liên minh Mỹ – Nam Hàn mạnh mẽ, giúp bảo đảm hòa bình, an ninh và tạo điều kiện tăng trưởng kinh tế trong khu vực.

Và bây giờ tôi vừa hoàn thành hai ngày thảo luận chuyên sâu với các đồng sự ASEAN của tôi và với các đối tác khác, những người đã đến đây theo đuổi nỗ lực chung: tăng cường an ninh, thịnh vượng, và [tìm kiếm] cơ hội trên khắp châu Á.

Hôm qua, tôi tham dự cuộc họp hàng năm cấp bộ trưởng Hoa Kỳ – ASEAN, nơi chúng ta đã thảo luận sự tham gia sâu rộng của đất nước tôi ở Đông Nam Á và các cơ hội chúng ta nhìn về phía trước trên nhiều mặt trận – từ đầu tư thương mại mở rộng, cho tới hợp tác nhiều hơn đối với hòa bình và an ninh, kết hợp các nỗ lực để đương đầu với những thử thách xuyên quốc gia, như biến đổi khí hậu, nạn buôn người, phổ biến vũ khí hạt nhân, và nhiều vấn đề khác.

Và hôm nay tôi đã tham dự cuộc họp hàng năm diễn đàn khu vực ASEAN lớn hơn để tiếp tục và mở rộng các cuộc thảo luận của chúng ta. Như tôi đã nói khi tôi tham dự diễn đàn này mùa Hè năm ngoái ở Thái Lan, chính phủ Obama cam kết sự tham gia rộng, sâu, và bền bỉ ở châu Á . Và như tôi đã thảo luận trong bài phát biểu tại Hawaii hồi mùa Thu năm ngoái, chúng tôi tập trung vào việc giúp tăng cường cấu trúc thể chế ở Châu Á Thái Bình Dương .

Trong 18 tháng qua chúng tôi đã ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác, thông báo ý định của chúng tôi để mở một toà đại sứ và chỉ định một đại sứ ASEAN tại Jakarta, và đã tổ chức hội nghị thượng đỉnh Hoa Kỳ – ASEAN đầu tiên. Và chúng tôi đã theo đuổi những nỗ lực tiểu khu vực (sub-regional) mới như quan hệ đối tác mới ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Dựa vào sự tiến triển đó, tôi chuyển đến các đồng sự của tôi sự quan tâm của chúng tôi trong việc tham gia Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á (EAS) vì nó đóng vai trò ngày càng tăng các thách thức trong thời đại chúng ta. Và tôi đã thông báo rằng Tổng thống Obama đã yêu cầu tôi đại diện cho Hoa Kỳ trong một khả năng thích hợp tại EAS năm nay ở Hà Nội để tiếp tục quá trình tham vấn với quan điểm về sự tham gia của người Mỹ hoàn toàn ở cấp tổng thống vào năm 2011. Thông qua các cuộc tham khảo, chúng tôi sẽ làm việc với các thành viên EAS để khuyến khích phát triển thành một nền tảng an ninh và thể chế chính trị cho châu Á trong thế kỷ này. Tổng thống cũng hướng tới việc chủ trì cuộc họp thứ hai của lãnh đạo Hoa Kỳ – ASEAN tại Hoa Kỳ vào mùa Thu tới.

Hôm nay chúng tôi thảo luận một số thách thức cấp bách trong đó có Bắc Hàn và Miến Điện. Tôi khuyến khích các đối tác và đồng minh tiếp tục thi hành đầy đủ và minh bạch Nghị quyết Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc 1874, và gây sức ép với Bắc Hàn thi hành nghĩa vụ quốc tế. Tôi cũng kêu gọi Miến Điện đưa ra các điều kiện cần thiết cho cuộc bầu cử đáng tin cậy, gồm cả việc phóng thích tất cả các tù nhân chính trị, đặc biệt là bà Aung San Suu Kyi, tôn trọng các quyền cơ bản của con người, và ngừng các cuộc tấn công chống lại các dân tộc thiểu số của họ. Và như tôi đã nói trong các cuộc họp ngày hôm nay, rất quan trọng để Miến Điện lắng nghe từ các nước láng giềng về sự cần thiết phải tuân theo các cam kết của mình, theo hiệp ước chống phổ biến vũ khí hạt nhân, để thực hiện các nghĩa vụ an toàn của IAEA và tuân theo Nghị quyết 1874 và 1718.

Chúng tôi cũng thảo luận một số chủ đề quan trọng khác như: biến đổi khí hậu, thương mại và hội nhập kinh tế, dân chủ và nhân quyền. Và tôi nắm lấy cơ hội cùng với một số đồng sự ASEAN và các đồng sự Diễn đàn Khu vực ASEAN để bắt đầu lập trường của chính phủ tôi về vấn đề quan tâm đến an ninh và thịnh vượng trong khu vực Biển Đông [nguyên văn: Biển Nam Trung Hoa].

Tôi muốn nói ngắn gọn quan điểm của chúng tôi về vấn đề này. Hoa Kỳ, như mọi quốc gia, có lợi ích quốc gia trong việc tự do đi lại, tự do đi vào vùng biển chung của châu Á, và tôn trọng luật pháp quốc tế ở Biển Đông. Chúng tôi chia sẻ những lợi ích không chỉ với các thành viên ASEAN hoặc những người tham dự Diễn đàn Khu vực ASEAN, mà còn với các quốc gia gần biển khác và cộng đồng quốc tế rộng hơn.

Hoa Kỳ hỗ trợ quá trình cộng tác ngoại giao của tất cả các bên tranh chấp để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ khác nhau mà không cần cưỡng chế. Chúng tôi phản đối việc sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực của bất kỳ nước tranh chấp nào. Trong khi Hoa Kỳ không đứng về bên nào trong các tranh chấp lãnh thổ về các vùng đất, đảo, đá…(land features) trên Biển Đông, chúng tôi tin rằng các bên tranh chấp nên theo đuổi việc tranh chấp lãnh thổ của mình và các quyền đối với không gian biển theo quy định của Công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển. Phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế, việc đòi chủ quyền chính đáng đối với không gian biển trên Biển Đông nên chỉ bắt nguồn từ việc đòi chủ quyền hợp pháp với các đảo, đất, đá…trên biển (*).

Hoa Kỳ ủng hộ Tuyên bố Ứng xử của các bên trên Biển Đông của ASEAN – Trung Quốc năm 2002. Chúng tôi khuyến khích các bên đạt được sự thoả thuận quy tắc ứng xử hoàn toàn. Hoa Kỳ chuẩn bị tạo điều kiện cho các sáng kiến và các biện pháp xây dựng lòng tin phù hợp với tuyên bố. Bởi vì tất cả các bên tranh chấp và cộng đồng quốc tế rộng hơn đều quan tâm về việc thương mại không bị ngăn cản để tiến hành trong điều kiện hợp pháp. Tôn trọng lợi ích của cộng đồng quốc tế và những nỗ lực có trách nhiệm để giải quyết những khiếu nại chưa được giải quyết và giúp tạo ra các điều kiện để giải quyết các tranh chấp và giảm căng thẳng trong khu vực. Để tôi nói thêm một điểm về Công ước [Liên Hiệp Quốc] về Luật biển. Nó được sự ủng hộ mạnh mẽ từ hai đảng tại Hoa Kỳ và là một trong những ưu tiên ngoại giao của chúng tôi trong năm kế tiếp là bảo đảm việc phê chuẩn ở Thượng viện.

Vì vậy, đây là một chương trình nghị sự rất đầy đủ với các cuộc thảo luận các vấn đề quan trọng thẳng thắn và hiệu quả. Chủ đề trong năm nay của Bộ là: chuyển suy nghĩ sang hành động. Và tôi nghĩ đó là bản tóm tắt hoàn hảo về những gì chúng tôi đang cố gắng để làm thông qua các thể chế này. Chúng ta có cùng suy nghĩ và các mục tiêu đầy tham vọng. Nhưng như mọi khi, thước đo sự thành công chính xác nhất của chúng tôi sẽ là, chúng ta chuyển từ suy nghĩ sang hành động tốt như thế nào bằng sự tiến triển vững chắc về các mục tiêu của chúng ta cho một tương lai tốt hơn. Và do đó, đã đến lúc chúng ta hành động và cho tôi nhận một số câu hỏi của quý vị.

(Phần kế tiếp là các phóng viên đặt câu hỏi cho bà Hillary Clinton)

Ngọc Thu dịch
Nguồn: http://www.state.gov/secretary/rm/2010/07/145095.htm

Phát biểu của Ngoại trưởng Hillary Clinton tại Hội nghị cấp Ngoại trưởng ASEAN – Mỹ

Sau lời chào mừng của Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Philippines Basillio, điều phối viên về quan hệ đối thoại ASEAN–Hoa Kỳ, tại hội nghị cấp Ngoại trưởng các nước ASEAN và Hoa Kỳ diễn ra tại Hà Nội. Ngoại trưởng Hillary Clinton phát biểu trước diễn đàn. Bà nói:
“Xin cảm ơn Thứ trưởng Basilio. Và cảm ơn chính phủ cũng như nhân dân VN đứng ra tổ chức sự kiện quan trọng này. Chúng tôi rất vui mừng được gặp gỡ nhiều đồng sự ở đây.

Hội nghị cấp Ngoại trưởng ASEAN-Hoa Kỳ là yếu tố thiết yếu cho sự hợp tác ngày càng tăng giữa 2 bên. Tổng thống Obama và tôi đều chia sẻ quan điểm là tương lai nước Mỹ có quan hệ mật thiết với vùng Á châu-Thái Bình Dương. Là là một quốc gia nằm ở vòng đai Thái Bình Dương, Hoa Kỳ cam kết sẽ là thành viên đối tác tích cực với Hiệp hội ASEAN. Sự hợp tác của chúng ta sẽ theo khuôn khổ ích lợi chung. Với mục đích hợp tác nhắm vào lợi ích chung, Hoa Kỳ quyết tâm trợ giúp các nước Đông Nam Á tiếp tục vững mạnh và duy trì nền độc lập, và mỗi quốc gia trong khối sẽ hưởng được hòa bình, ổn định, thịnh vượng cùng nhân quyền theo tiêu chuẩn chung nhất.

Hoa Kỳ sẵn sàng hỗ trợ và lạc quan về tương lai của khu vực Đông Nam Á, một khu vực phong phú về lịch sử, văn hóa và hiện là vùng phát triển kinh tế, với gần 600 triệu dân, thị trường xuất khẩu lớn thứ 6 của Mỹ, nơi đón nhận nguồn đầu tư từ Hoa Kỳ nhiều hơn là Trung Quốc được nhận. Đây cũng là vùng có vị trí thiết yếu ở Châu Á-Thái Bình Dương, nơi chúng ta cùng nỗ lực ứng phó với mọi thách thức cũng như nắm giữ những cơ hội trong thế kỷ 21 này.

Hồi năm ngóai, khi tôi tham dự hội nghị tương tự ở Thái Lan, thông điệp tôi đưa ra đơn giản là Hoa Kỳ nhắc lại lời cam kết hợp tác với các đối tác tại Đông Nam Á để nâng cao quyền lợi và giá trị chung của chúng ta.

Hôm nay chúng ta sẽ thảo luận về mức tiến bộ và những bước cụ thể mà chúng ta nỗ lực thực hiện cho tròn lời cam kết ấy, kể cả những kế hoạch đầu tư mới trong ưu tiên chung cùng những phương cách hợp tác mới.

Chúng tôi tin rằng Đông Nam Á và Hoa Kỳ phải hợp tác hiệu quả để mang lại kết quả cho tất cả nhân dân hai bên. Do đó tôi xin cảm ơn sự hiếu khách của nước chủ nhà, và cảm ơn tất cả các quốc gia của quý vị đã thể hiện tình hữu nghị và sự hợp tác. Tôi trông đợi cuộc thảo luận tốt đẹp giữa hai bên.”

Việt Nam ở vị trí nào trong chính sách ngoại giao Hoa Kỳ?

Ngoại trưởng Hoa Kỳ, bà Hillary Clinton đến thăm Việt Nam vào ngày 22 tháng 7. Đây là lần đầu tiên bà Clinton đến Việt Nam với tư cách là Ngoại trưởng Mỹ, để tham dự Hội nghị Bộ trưởng ASEAN, thảo luận các vấn đề song phương giữa hai nước cũng như tham dự lễ kỷ niệm mười lăm năm quan hệ ngoại giao Việt - Mỹ.

Quan hệ Việt - Mỹ sau chiến tranh

Quan hệ Việt - Mỹ sau khi chiến tranh kết thúc năm 1975 đã bị đóng băng trong thời gian gần hai mươi năm. Trong thời gian đó, Việt Nam đã bỏ lỡ cơ hội bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ ngay sau khi chiến tranh kết thúc. Đó là vào thời điểm năm 1977, dưới thời Tổng thống Jimmy Carter, có nhiều bằng chứng cho thấy Hoa Kỳ sẵn sàng thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với Việt Nam.

Có lẽ do lợi ích chiến lược của Hoa Kỳ ở khu vực châu Á Thái Bình Dương, nên Mỹ đã thay đổi thái độ cũng như quan điểm đối với Việt Nam sau khi chiến tranh kết thúc. Ông Andrew Young, đại sứ Hoa Kỳ tại LHQ đã nói rõ lập trường của Mỹ đối với Việt Nam hồi đầu năm 1977 như sau: "Chúng tôi xem Việt Nam như một Nam Tư ở châu Á. Không phải là bộ phận của Trung Quốc hay của Liên Xô, mà là một nước độc lập. Một nước Việt Nam hùng mạnh và độc lập là phù hợp với lợi ích quốc gia của Mỹ."

Tháng 3 năm 1977, Hoa Kỳ đã nới lỏng lệnh cấm vận đối với Việt Nam như, cho phép tàu bè và máy bay của các nước khác chở hàng sang Việt Nam được phép ghé các cảng và sân bay của Hoa Kỳ để tiếp nhiên liệu. Cũng trong thời gian này, Hoa Kỳ đã cho phép công dân Mỹ đến thăm Việt Nam.

Song song với việc nới lỏng lệnh cấm vận, phía Mỹ cũng đã cử ông Leonard Woodcock, là đặc phái viên của Tổng thống Jimmy Carter cùng các thành viên, trong đó có Thượng nghị sĩ Mansfield, đến thăm Việt Nam. Và Hoa Kỳ cũng đã không còn chống đối Việt Nam vào Liên Hiệp Quốc và cam kết sẽ chấm dứt lệnh cấm vận thương mại một khi quan hệ ngoại giao được thiết lập.

Phía Việt Nam cũng có dấu hiệu cho thấy hai nước sớm bình thường hóa, chẳng hạn như chương trình phát thanh của Đài Phát thanh Hà Nội lúc đó cũng cho thấy, Chính phủ Việt Nam đang chuẩn bị cho người dân trong việc bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ. Ngoài ra, Việt Nam cũng đã hứa sẽ cung cấp thêm các chi tiết về người Mỹ mất tích trong chiến tranh (MIA).

Việt Nam bỏ lỡ cơ hội

Sau chuyến thăm Việt Nam của ông Woodcock, hai nước đã có cuộc đàm phán đầu tiên hồi tháng 5 năm 1977 tại Paris. Thế nhưng, có lẽ do quá say sưa với chiến thắng đế quốc Mỹ nên Việt Nam đã bỏ lỡ cơ hội thiết lập quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ. Tin tức cho biết, một trong những trở ngại lớn trong vòng đàm phán đầu tiên đó là, Việt Nam đưa ra điều kiện bồi thường chiến tranh làm điều kiện bang giao với Hoa Kỳ.

Trong khi đó, ở trong nước, Quốc hội Hoa Kỳ đã bỏ phiếu áp đảo để ngăn chính phủ không cho đàm phán liên quan đến việc bồi thường, hỗ trợ hay bất kỳ việc thanh toán nào cho Việt Nam. Những lần bỏ phiếu kế tiếp của Quốc hội cũng đã phản đối mạnh mẽ bất kỳ hình thức viện trợ nào cho Việt Nam và thậm chí chống đối cả việc dỡ bỏ lệnh cấm vận thương mại.

Phía Việt Nam vẫn không thay đổi quan điểm, mặc dù có thay đổi trong cách gọi tên, như không yêu cầu Hoa Kỳ bồi thường chiến tranh, mà muốn Hoa Kỳ phải đóng góp để hàn gắn vết thương và tái thiết đất nước sau chiến tranh, với số tiền là 3,2 tỷ đô la, theo ông Trần Quang Cơ, viên chức ngoại giao Việt Nam cho biết.

Trong khi phía Việt Nam cho rằng, Hoa Kỳ phải bồi thường chiến tranh là một nghĩa vụ không thể phủ nhận, phía chính phủ Carter cho biết sự hỗ trợ theo yêu cầu của Việt Nam là không thể thực hiện được.

Vòng đàm phán tiếp theo ở Paris hồi tháng 6 năm 1977 đã diễn ra trong bầu không khí ảm đạm và đi vào bế tắc vì vấn đề viện trợ. Phía Hoa Kỳ nói rằng, do gặp khó khăn về vấn đề pháp lý, như Quốc hội Mỹ kiên quyết không chấp nhận viện trợ làm điều kiện cho việc bình thường hoá quan hệ với Việt Nam, nên phía Mỹ không thể thực hiện điều đó.

Phái đoàn Hoa Kỳ đã hứa sẽ thực hiện việc viện trợ sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao, thế nhưng phía Việt Nam vẫn không chấp nhận. Và đây là nguyên nhân chính dẫn đến việc các vòng đàm phán kế tiếp giữa hai nước không đi đến kết quả.

Vòng đàm phán thứ ba được tổ chức hồi tháng 12 cùng năm, thế nhưng hai bên vẫn không đạt được các thỏa hiệp.

Các nguyên nhân khác

Ngoài vấn đề bồi thường chiến tranh, các nguyên nhân khác cũng đã làm cho việc bình thường hóa quan hệ hai nước trở nên khó khăn hơn, như vấn đề tù nhân chiến tranh và người Mỹ mất tích khi làm nhiệm vụ (POW và MIA) là các vấn đề nhạy cảm về chính trị.

Trong khi phía Việt Nam cho rằng, Hoa Kỳ phải bồi thường chiến tranh là một nghĩa vụ không thể phủ nhận, phía chính phủ Carter cho biết sự hỗ trợ theo yêu cầu của Việt Nam là không thể thực hiện được.

Một nguyên nhân không kém phần quan trọng, đó là quan điểm khác nhau của các viên chức Hoa Kỳ trong vấn đề Việt Nam và Trung Quốc đã thay đổi sau ba vòng đàm phán. Trong khi ông Cyrus Vance, Ngoại trưởng Hoa Kỳ thời bấy giờ, cùng lúc muốn Hoa Kỳ thiết lập quan hệ ngoại giao với hai nước Việt -Trung, thì ông Zbigniew Brzezinski, Cố vấn An ninh Quốc gia, chỉ tập trung vào Liên Xô cũ, tức là bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc để gây áp lực với Liên Xô.

Do ba vòng đàm phán đều thất bại, cũng như quan điểm của ông Brzezinski chuyển sang kế hoạch bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, nên vòng đàm phán Việt - Mỹ lần thứ tư hồi tháng 9 năm 1978 giữa ông Richard Holbrooke, Phụ tá Ngoại trưởng, phụ trách châu Á Thái Bình Dương với ông Nguyễn Cơ Thạch, Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam đã không đi đến kết quả.

Mặc dù trong lần đàm phán này, phía Việt Nam đã không còn đòi hỏi Hoa Kỳ phải bồi thường chiến tranh và chấp nhận bình thường hóa quan hệ vô điều kiện, thế nhưng có lẽ các nhượng bộ từ phía Việt Nam lúc đó đã quá muộn, do Hoa Kỳ đang chuẩn bị thiết lập quan hệ với Trung Quốc. Và rồi, đầu năm 1979 Hoa Kỳ đã thiết lập bang giao với Trung Quốc, để rồi chưa đầy hai tháng sau Trung Quốc đưa quân sang đánh Việt Nam.

Trong khi đó, quan hệ Việt Mỹ tiếp tục bị đóng băng cho đến năm 1991; dưới thời Tổng thống George Bush (Bush cha), Hoa Kỳ dỡ bỏ phần nào lệnh cấm vận, cho đến ngày 12 tháng 7 năm 1995, quan hệ ngoại giao giữa hai nước mới được thiết lập hoàn toàn.

Quan hệ phát triển nhanh sau bang giao

Kể từ khi quan hệ ngoại giao được thiết lập, các mối quan hệ song phương giữa hai nước Việt - Mỹ đã phát triển nhanh. Trong lĩnh vực chính trị, các cuộc viếng thăm giữa lãnh đạo cấp cao hai nước được xem như nhiều hơn mức bình thường, khi hai Tổng thống Hoa Kỳ đến thăm Việt Nam trong vòng sáu năm: Tổng thống Bill Clinton đến Việt Nam vào năm 2000 và Tổng thống George W. Bush vào năm 2006.

Phía Việt Nam, các lãnh đạo cấp cao nhất cũng đã đến thăm Hoa Kỳ ba lần trong vòng ba năm, từ năm 2005 - 2008: Thủ tướng Phan Văn Khải, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Đây là điều chưa từng xảy ra trong quan hệ giữa Hoa Kỳ với các đối tác lâu đời khác như Nga hay Ấn Độ.

Chuyến thăm Việt Nam lần đầu tiên của Tổng thống Bill Clinton đã tập trung sự chú ý của các nhà ngoại giao hai nước Việt - Mỹ, về việc làm thế nào để cải thiện quan hệ chung giữa hai nước. Và trong chuyến thăm Hoa Kỳ của Thủ tướng Phan Văn Khải hồi năm 2005, tại Washington, hai nước đã ban hành một tuyên bố chung, mục đích thể hiện “ý định của hai bên nhằm nâng quan hệ hai nước lên tầm cao mới.

Ngoài các chuyến viếng thăm của các lãnh đạo cao nhất của hai nước, các bộ trưởng ngoại giao, quốc phòng và lãnh đạo các cơ quan khác của hai bên cũng đã gặp nhau thường xuyên hơn. Điều này cho thấy Việt Nam và Hoa Kỳ đã từng bước khắc phục quá khứ và xây dựng sự tin tưởng lẫn nhau. Quan hệ chính trị được cải thiện không những đặt nền tảng vững chắc cho quan hệ hai nước, mà còn thúc đẩy hợp tác mạnh mẽ trong các lĩnh vực khác.

Việt Nam ở vị trí nào của Hoa Kỳ?

Mặc dù quan hệ ngoại giao giữa hai nước phát triển rất nhanh trong mười lăm năm qua kể từ khi bình thường hóa, cũng như vị trí địa chiến lược của Việt Nam được cho là khá quan trọng đối với Hoa Kỳ, thế nhưng chính sách của Hoa Kỳ dành cho Việt Nam được giới chuyên gia đánh giá tương đối thấp so với quan hệ giữa Hoa Kỳ với các nước khác trong khu vực.

Ngoài các nước trong khu vực mà Hoa Kỳ đặt ở vị trí quan trọng trong mối quan hệ như, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Nam Hàn; ở Đông Nam Á, các nước như: Indonesia, Philippines, Singapore, Thailand cũng đang chiếm vị trí cao hơn Việt Nam trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Việt Nam có lẽ chỉ được chú ý khi Hoa Kỳ lo ngại về sự trỗi dậy của Trung Quốc, cũng như trong quan hệ tác động giữa Việt Nam với các cường quốc châu Á khác và với khối ASEAN.

Khi chính sách an ninh và ngoại giao của Hoa Kỳ tập trung vào chiến tranh chống khủng bố và chống phổ biến vũ khí hạt nhân, Việt Nam vẫn ở vị trí thấp trong chính sách đối ngoại của Mỹ so với các nước khác trong khu vực. Điều này có thể ảnh hưởng bất lợi cho Việt Nam trong quan hệ hợp tác song phương giữa hai nước, chẳng hạn như Việt Nam có nguy cơ bị bỏ rơi do các ưu tiên toàn cầu cũng như các ưu tiên trong khu vực của Hoa Kỳ.

Các chuyên gia cho rằng, nếu xét về vị trí địa chiến lược cũng như sự tham gia của Việt Nam trong thời gian qua trên trường quốc tế, chẳng hạn như Việt Nam giữ vai trò tiên phong là Ủy viên Không thường trực của Hội đồng Bảo an LHQ, nhiệm kỳ 2008-2009, thì Việt Nam xứng đáng được đứng ở vị trí cao hơn về các ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ.

Đâu là nguyên nhân?

Mặc dù quan hệ Việt - Mỹ hiện nay được cho là tốt nhất, thế nhưng các chuyên gia cho rằng Việt Nam khó có thể trở thành đồng minh hay bạn bè của Hoa Kỳ trong tương lai gần. Trong khi trở thành đồng minh của Mỹ có ý nghĩa rất quan trọng đối với Việt Nam, bởi vì Hoa Kỳ có nghĩa vụ bảo vệ nếu Việt Nam bị Trung Quốc hay một nước khác tấn công.

Các chuyên gia cho rằng, một trong những nguyên nhân chính ngăn cản Việt Nam phát triển quan hệ hơn nữa với Hoa Kỳ đó là: hệ thống chính trị độc đảng ở Việt Nam dẫn đến các quan điểm khác nhau về ý thức hệ giữa hai nước. Trong khi Hoa Kỳ ủng hộ các giá trị như: nhân quyền, dân chủ và tự do, mà họ đã hy sinh để bảo vệ, Việt Nam cho rằng, các khái niệm này của Hoa Kỳ này chỉ thích hợp ở phương Tây, chứ không thể áp dụng vào Việt Nam.

Phía Hoa Kỳ muốn Việt Nam cải cách kinh tế song song với đổi mới chính trị, chẳng hạn như Hoa Kỳ muốn nhìn thấy một nước Việt Nam tự do hơn, nơi đó người dân không chỉ có đủ cơm ăn, áo mặc, mà còn được tự do bày tỏ những suy nghĩ của mình mà không bị một thế lực nào đe dọa. Và đó là một trong những điều kiện quan trọng để quan hệ hai nước phát triển lên tầm cao mới.

Bài phát biểu hồi tháng 7 năm 1995, khi Hoa Kỳ thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, Tổng thống Bill Clinton đã nói rõ điều đó, rằng: “Tôi tin rằng bình thường hóa và gia tăng tiếp xúc giữa Mỹ và Việt Nam sẽ tiến tới mục đích tự do tại Việt Nam, như đã làm ở Đông Âu và Liên Xô cũ. Tôi tin tưởng mạnh mẽ rằng sự tham gia của Việt Nam trên mặt trận kinh tế rộng lớn về cải cách kinh tế, và cải cách dân chủ, sẽ giúp tôn vinh những người đã hy sinh, chiến đấu vì lợi ích tự do ở Việt Nam.”

Sự khác biệt về các giá trị tự do, dân chủ giữa hai nước ảnh hưởng không tốt đến quan hệ song phương Việt - Mỹ. Chẳng hạn như, Quốc hội Hoa Kỳ thường xuyên thông qua Đạo luật Nhân quyền cho Việt Nam, cũng như những lời chỉ trích trong các báo cáo nhân quyền hàng năm của Bộ Ngoại giao và Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ, cho thấy không có lợi cho Việt Nam.

Những sự khác biệt nói trên sẽ là nguyên nhân chính gây cản trở quan hệ hai nước phát triển lên tầm cao mới trong tương lai, và đó cũng sẽ là nguyên nhân chính ngăn cản Việt Nam trở thành đồng minh hay bạn bè của Mỹ.

Mặc dù Việt Nam chào đón sự hiện diện của Hoa Kỳ trong khu vực, cũng như lãnh đạo Việt Nam tìm cách nâng cấp quan hệ với Hoa Kỳ, ngoài mục đích giúp Việt Nam phát triển kinh tế, lý do quan trọng nhất mà Việt Nam muốn nâng cao quan hệ với Hoa Kỳ đó là, Hoa Kỳ có khả năng giúp Việt Nam chống lại các tham vọng của Trung Quốc ở Đông Nam Á. Thế nhưng với điều kiện mà phía Hoa Kỳ đòi hỏi để Việt Nam trở thành đồng minh, giúp Việt Nam chống lại sự bành trướng của Trung Quốc, liệu Việt Nam có đáp ứng được những đòi hỏi này hay không? Hay là Việt Nam sẽ bỏ lỡ cơ hội như đã từng xảy ra cách nay hơn ba thập niên?

Trung Quốc, tuần trăng mật với ASEAN đã kết thúc?

Tác giả: Greg Torode (South China Morning Post)
Bài đã được xuất bản.: 10/08/2010 06:00 GMT+7, trên Vietnamnet

Cuộc phục kích của Mỹ, liên quan đến khu vực Biển Đông đang tranh chấp, tại Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) vừa qua đã đánh dấu một sự chuyển tông lớn trong quan hệ Mỹ - Trung.

Việc Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton "lội qua" Biển Đông trong hội nghị ARF tại Hà Nội, các tàu chiến Mỹ và Hàn Quốc tiến hành tập trận trên biển Nhật Bản bất chấp phản đối của Trung Quốc đã đẩy căng thẳng lên một nấc thang mới.

Điều đã xảy ra ở Hà Nội có ý nghĩa đặc biệt. Khi bà Clinton tuyên bố việc giải quyết các tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông giờ nằm trong "lợi ích quốc gia" của Mỹ và là "một ưu tiên ngoại giao" của nước này, bà không chỉ nhắc tới mối lo ngại của Mỹ trước khả năng bá chủ trên biển của Trung Quốc. Tuyên bố này còn cho thấy Washington đã nắm bắt một cơ hội lịch sử.

Nhiều tháng nay, phản ứng đồng loạt ở Đông Á trước những tuyên bố đòi chủ quyền quá trớn của Trung Quốc đã được Washington chú ý theo dõi, chính quyền của Tổng thống Barack Obama đã vạch ra những con đường để tái cam kết với khu vực này. Được cảnh báo bởi điệp khúc rằng Mỹ là một cường quốc đang suy yếu, giới chức nước này đã bắt đầu nói đến sự cần thiết phải xác nhận ưu tiên chiến lược của Mỹ ở châu Á.

Và việc Trung Quốc liên tiếp đòi chủ quyền trên toàn khu vực Biển Đông - bằng chứng là việc họ bắt giữ hàng trăm ngư dân Việt Nam, quấy nhiễu tàu chiến Mỹ và hải quân các nước khác, cũng như đe dọa các tập đoàn dầu khí quốc tế phải chấm dứt các hợp đồng khai thác với Việt Nam - đã tạo ra cơ hội có một không hai cho Mỹ.

Động thái của Mỹ không chỉ làm hài lòng những đối thủ của Trung Quốc trong tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, mà còn nhằm trấn an các tác nhân lớn hơn trong khu vực, như Hàn Quốc, Nhật Bản và Indonesia bằng việc gửi một thông điệp cứng rắn tới Trung Quốc. Trong suốt gần 15 năm qua, Washington đã đứng ngoài những căng thẳng tại Biển Đông, khu vực nhiều tài nguyên và có vị trí chiến lược, nối Đông Á với Trung Đông và châu Âu. Các đặc phái viên của Mỹ đôi khi nhắc nhở cần giải quyết hòa bình song không đứng về bên nào trong các tranh chấp này.

Nhưng tuyên bố của bà Clinton đã thay đổi tất cả. Bà đã đưa Mỹ lên vị trí tiền tuyến trước những đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc - cái mà Bắc Kinh gần đây gọi là "lợi ích cốt lõi" của mình, cụm từ ngoại giao vốn dùng để chỉ tính nhạy cảm của vấn đề Đài Loan và Tây Tạng.

Đầu năm 2010, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates phát biểu trong một diễn đàn an ninh tại Singapore rằng Washington phản đối bất cứ nỗ lực nào nhằm hăm dọa các công ty dầu khí của Mỹ tham gia các hợp đồng hợp pháp trong khu vực này. Đến lượt mình, bà Clinton đã đưa ra bình luận tại ARF cũng như trong các cuộc gặp song phương và các thông cáo báo chí. Trong khi đó, các quan chức dưới quyền bà cũng đã thông báo với báo chí Mỹ để họ không bỏ sót diễn biến này.

Trong khi khẳng định giữ vững lập trường không đứng về bên nào, bà Clinton nói rõ rằng Washington muốn thúc đẩy đối thoại đa phương nhằm tìm giải pháp - một thách thức trực tiếp tới Trung Quốc vì nước này đã dùng nhiều cách, kín đáo nhưng mạnh mẽ, nhằm ngăn chặn ASEAN đưa vấn đề này ra thảo luận, và muốn giải quyết vấn đề trên bàn đàm phán song phương, giữa Trung Quốc với nước có tranh chấp.

Bà Clinton khẳng định: "Mỹ ủng hộ một tiến trình ngoại giao đa phương có sự tham gia của tất cả các bên tranh chấp nhằm giải quyết vấn đề mà không bị ép buộc. Chúng tôi phản đối bất cứ bên nào sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực".

Đúng một năm về trước, Trung Quốc được xem là tác nhân gây chia rẽ ASEAN, khi từng thành viên trong hiệp hội này đều đặt quan hệ của mình với Trung Quốc lên trên sự thống nhất trong ASEAN. Sự dè dặt này vẫn còn thấy rõ chỉ vài giờ trước khi bà Clinton xuất hiện. Trước thềm hội nghị ARF, trong cuộc gặp thường niên giữa các bộ trưởng ngoại giao ASEAN với Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì, chỉ Philippines nêu vấn đề Biển Đông. Sự e dè đó là kiểu truyền thống của ASEAN. Các tuyên bố và cuộc gặp chính thức thường ôn hòa nhất có thể. Một quan sát viên ngoại giao nhận xét: "Rõ ràng họ đều đang chờ đợi sự an toàn trong tập thể".

Sự xuất hiện của bà Clinton dường như đã tạo ra cảm giác an toàn, khi bà thể hiện một quan điểm cứng rắn mới. 11 thành viên đã sẵn sàng lên tiếng, trong đó có cả Brunei, Malaysia, Philippines và Việt Nam - những nước bị ảnh hưởng nhiều nhất - cũng như Indonesia, EU, Australia và Nhật Bản. Những gì diễn ra sau đó quả là một cuộc vật lộn hiếm thấy. Ngoại trưởng Dương bày tỏ tức giận, bởi mọi diễn biến hoàn toàn nằm ngoài sức tưởng tượng của Trung Quốc.

Hơn một năm qua, các diễn biến ngoại giao, chính trị và quân sự đã khiến Trung Quốc ngày càng quan ngại. Giới chức quân sự Việt Nam đã được mời thăm tàu ngầm của Mỹ tại Hawaii. Việt Nam cũng cho phép các tàu chiến Mỹ được sửa chữa tại các cảng biển của mình. Vừa qua, Việt Nam còn ký hợp đồng với một đồng minh thời chiến tranh Lạnh nhằm mua sáu chiếc tàu ngầm lớp Kilo.

Trong khi đó, các quan chức Lầu Năm Góc và Bộ Ngoại giao Mỹ ngày càng công khai với Quốc hội Mỹ về sự cần thiết phải khẳng định quyền tự do đi lại của Mỹ trên vùng biển quốc tế bất chấp quan ngại của Trung Quốc. Trong khi Trung Quốc cho rằng phần lớn Biển Đông là vùng đặc quyền kinh tế của mình, Mỹ và các nước khác nhấn mạnh đây vẫn là hải phận quốc tế, vì vậy các hoạt động quân sự bình thường, trong đó có hoạt động do thám, đều được phép.

Căng thẳng đã biến thành cuộc đấu khẩu khi ông Gates phát biểu tại Singapore trước các thính giả trong đó có các quan chức cấp cao của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA), rằng "Mỹ không coi đó là 'một cái hồ của Trung Quốc', chúng tôi có quyền qua lại bình thường tại vùng biển này". Một quan chức PLA bực tức đáp lại: "Xin lỗi, sự do thám của Mỹ không phải là đi lại bình thường. Mối lo ngại của Trung Quốc không thể bị xem nhẹ".

Liệu Washington có xem nhẹ các mối quan ngại này hay không thì còn phải chờ xem. Nhưng chắc chắn Bắc Kinh sẽ coi các sự kiện ở Hà Nội vừa qua là một sự khiêu khích lớn. Cũng có một nhận thức ngày càng rõ rệt trong khu vực, đó là yếu tố biển rất quan trọng đối với các tham vọng của Trung Quốc về khả năng "phòng thủ biển xa", theo đó hải quân nước này có thể hoạt động ở ngoài khơi xa, vì đây là một cửa ngõ duy nhất dẫn tới Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.

Một điều rõ ràng là Mỹ đang chuẩn bị để tham gia vào một trong những vấn đề gai góc nhất của khu vực - một thay đổi chính sách có thể không hề dễ. Còn đối với Trung Quốc, tuần trăng mật với ASEAN đã kết thúc.

Quốc Thái (trích dịch)

Thứ Hai, 9 tháng 8, 2010

Tên lửa Trung Quốc có thể làm thay đổi cân bằng sức mạnh tại Thái Bình Dương?

VIT - Trung Quốc đang lớn tiếng đe dọa các tầu sân bay Mỹ về sức mạnh hủy diệt của tên lửa Dong Feng 21D. Trên thực tế, loại tên lửa mới này đang làm cho các nhà lập kế hoạch quân sự Mỹ lo ngại và phải tìm cách đối phó nếu không muốn mất dần vị trí độc tôn trên thế giới.

Tên lửa Dong Feng 21D có thể được phóng từ trên đất liền và được cho là có khả năng tấn công chính xác và tiêu diệt các tàu sân bay của Mỹ đang di chuyển ở khoảng cách 900 dặm.

Một trong những đặc điểm nổi bật của các tàu sân bay Mỹ là có lớp thép và các hệ thống phòng thủ đặc biệt, nhưng một số nhà phân tích cho rằng tên lửa Feng Dong 21D, một loại tên lửa đạn đạo đối hạm (ASBM), có thể có khả năng xuyên thủng các lớp phòng thủ này.

"Từ lâu, Hải quân đã quan ngại những khả năng tiêu diệt tàu sân bay," ông Patrick Cronin, Giám đốc cao cấp Chương trình An ninh châu Á-Thái Bình Dương tại Trung tâm An ninh châu Mỹ Mới, nói với AP.

"Khả năng về tên lửa đối hạm của Trung Quốc đang nổi lên, và đặc biệt là tên lửa DF 21D, đại diện cho loại vũ khí hậu Chiến tranh Lạnh đầu tiên vừa có khả năng tiềm tàng ngăn chặn sự vượt trội về sức mạnh hải quân của Mỹ và được thiết kế có chủ ý cho mục đích đó," ông Cronin cho biết thêm.

Một báo cáo trong năm 2009 của tổ chức Jamestown Foundation thừa nhận các yếu tố tình báo “cho rằng Trung Quốc có thể đang tiến gần đến giai đoạn triển khai, phóng thử một tên lửa đạn đạo đối hạm-một loại vũ khí mà chưa có quốc gia khác nào sở hữu." Báo cáo cũng khẳng định rằng có "khá nhiều điều chưa rõ" về khả năng tên lửa đạn đạo đối hạm của Trung Quốc.

Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã liên tục phản đối sự hiện diện của Mỹ tại biển Đông, Hoàng Hải, và biển Hoa Đông.

Năm ngoái, Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates cho biết một tên lửa như Dong Feng 21D có “khả năng cản trở quyền tự do đi lại của Mỹ và thu hẹp những lựa chọn chiến lược của chúng tôi." Trong khi tên lửa này có thể không phải là một yếu tố thay đổi "trò chơi" tại Thái Bình Dương, nhưng nó có thể có tác động bất lợi đến quan niệm của Mỹ có thể đi bất cứ đâu bằng tàu sân bay.

Các báo cáo cho biết Feng Dong 21D là loại tên lửa nhỏ và có chi phí sản xuất không tốn kém.
Linh Trang (Theo AP)Tin dịch